Môn Ngữ Văn Lớp 11 Phân tích khát vọng – tư thế lên đường của nhân vật trữ tình trong “Xuất dương lưu biệt “ (Phan Bội Châu)

Question

Môn Ngữ Văn Lớp 11 Phân tích khát vọng – tư thế lên đường của nhân vật trữ tình trong “Xuất dương lưu biệt “ (Phan Bội Châu) Giúp em bài này với ạ em cần gấp, đừng copy nguồn trên mạng nha. Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn nhiều.

in progress 0
4 tháng 2022-08-23T09:24:10+00:00 1 Answer 0 views 0

Trả lời ( )

    0
    2022-08-23T09:25:48+00:00

    DÀN Ý 

    I.MB: Giới thiệu tác giả, tác phẩm

    II.TB

      1. Giới thiệu chung

        – Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1905, trước lúc lên đường  sang Nhật, Phan Bội Châu sáng  tác bài thơ này để từ giã bạn bè và đồng chí.

     – Nhân vật trữ tình trong bài thơ chính là tác giả. Qua bài thơ, PBC muốn bộc bạch tư tưởng, nỗi lòng, của mình.

    Nói về chí làm trai, về tư thế và tầm vóc của mình, về khao khát ghi danh và khát vọng hành động trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền đã thể hiện một trái tim yêu nước cháy bỏng. => quyết tâm ra đi cứu nước.

     2. Phân tích: Khát vọng và tư thế lên đường của nhân vật trữ tình được bộc lộ xuyên suốt bài thơ

      a. Hai câu đề: chí làm trai trong xã hội phong kiến xưa 

       – Quan niệm của PBC : phải lạ,hi kì, biết sống phi thường, hiển hách, xoay chuển đất trời, vũ trụ

    => Quan niệm chí làm trai lớn lao, mạnh mẽ, táo bạn, lí tưởng sống ấy tạo cho con người 1 tư thế mới, khỏe khoắn, ngang tàn, dám ngạo nghễ thách thức với trời đất. 

    b. Hai câu thực:

       – Kiểu câu

         + câu 3: khẳng định

         + câu 4: nghi vấn ->khẳng  định

    -> ý thức trách nhiệm, sưn cứng cỏi đầy khí pách của PBC

    – Cái tôi ( khát vọng): tráchnhiệm, cống hiến, đóng gips cho xã hội, chứ không phải cái tôi hưởng thụ

    -> giải thchs mối quan hệ giữa chí làm trai với ý thức về cái tôi

    c. Hai câu luận

    – Cấu trúc

      + Từng vế câu: nhân- quả

     + Giuwx 2 câu: quan hệ song hành

    => Mối quan hệ khăng khít giữa Tổ quốc non sông và cuộc sống của mỗi người dân, giữa sách vở thánh hiền và việc mang lại trí tuệ cho tuoiỉ trẻ

    – Câu 6: quan hệ mới mẻ, táo bạo, có ý nghĩa tiên phong đới với thời đại: sách báo thánh hiền chẳng có ích gì- ý tưởng cách tân này có được là nhờ tinh thần dân tộc, ý tức cứu nước, nhất là luồng ánh sáng mới của ý thức thế hệ

    =>Thấy được tâm hồn phóng khoáng, mạnh mẽ và tự do của một chí sĩ yêu nước chân chính, sẵn sàng hy sinh tất cả, nén nhịn nỗi đau cá nhân vì lợi ích của dân tộc, của đất nước, để hoàn trả món nợ công danh.

    d. Hai câu kết

    – Hình ảnh: ngọn gió dài, ngàn đợt sóng cung  bay lên

     Ý thơ nguyên bản: hào hùng, có sự mở rộng tứ thơ

    -> Tư thế hăm hở của người ra đi 

    3.  Đánh giá chung

     – Nội dung: bằng giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, bìa thơ đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn mà hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng nững năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước,

    – Nghệ thuật:

    III.KB

    *** Bài làm tham khảo 

    Những năm đầu thế kỉ XX, trong lúc đất nước Việt Nam mất đi chủ quyền, phong trào Cần Vương thất bại thì tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi một luồng gió mới đến các thanh niên yêu nước. Họ tìm thấy những lí tưởng mới mẻ và ra đi với một niềm tin mạnh mẽ vào dân tộc. Một trong những nhà cách mạng đã có cuộc ra đi hào hùng như vậy là Phan Bội Châu. Trước khi lên đường sang Nhật Bản, ông đã viết bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” như một lời từ biệt. Đây là một bài thơ đặc sắc trong kho tàng văn thơ của Phan Bội Châu.

    “Làm trai phải lạ ở trên đời

    Há để càn khôn tự chuyển dời”

        Hai câu đầu mở ra một quan niệm mới về chí làm trai và vị thế của con người trong xã hội. Đã làm nam nhi thì phải sống thật phi thường, hiển hách, dám mưu đồ sự nghiệp, dám xoay chuyển “càn khôn”, dám chủ động đương đầu với thử thách chứ không sống thụ động, tẻ nhạt và tầm thường. Con người phải khẳng định được vị trí của mình trong cuộc đời chứ không đầu hàng trước số phận. Cũng giống như Nguyễn Công Trứ từng dõng dạc: “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Như vậy, Phan Bội Châu đã bộc lộ một tư tưởng, một lẽ sống cao đẹp và tiến bộ. Từ đó tác giả ý thức:

    “Trong khoảng trăm năm cần có tớ

    Sau này muôn thuở, há không ai?”

       Quan niệm mới đã hình thành nên ý thức cá nhân gắn với một “cái tôi” đầy trách nhiệm trước thời thế. Nhà thơ khẳng định về sứ mệnh cao cả, thiêng liêng của mình giữa cuộc đời, ý thức sâu sắc và trách nhiệm lớn lao của bản thân. Không phải chỉ sống một cuộc sống nhạt nhòa, bình lặng mà phải sống cống hiến, hiên ngang, hiển hách để ghi lại tên tuổi với hậu thế. Câu thơ thứ tư phủ định chính là để khẳng định dứt khoát hơn về lẽ sống của mình. Những hình ảnh thơ to lớn, kỳ vĩ như “càn khôn”, “trăm năm”, “muôn thuở” đã góp phần làm nổi bật lên khát khao sống, cống hiến của tác giả.

       Không chỉ ý thức được trách nhiệm của mình, Phan Bội Châu còn bộc lộ thái độ kiên quyết của mình trước thời cuộc:

    “Non sông đã chết, sống thêm nhục

    Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài”

       Bằng tình yêu nước cháy bỏng và đôi mắt tinh tế của mình, Phan Bội Châu đã nhận thức rõ hơn về tình hình đất nước lúc bấy giờ. Lẽ vinh – nhục được đặt ra như một nỗi đau đáu của người nam nhi trước tình cảnh nước mất, nhà tan. Cũng như những nhà cách mạng khác, ông cũng trăn trở về con đường tương lai của dân tộc, phải làm sao để cứu được đất nước. Ông đã tỉnh táo nhận ra thực tế: đất nước mất đi chủ quyền, “hiền thánh” cũng không thể làm gì được. Ở câu này, bản dịch thơ chưa sát lắm so với nguyên tác. Bản nguyên tác đã nói lên thái độ dứt khoát, mạnh mẽ của Phan Bội Châu: “Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!”. Không phải ông hoàn toàn mất niềm tin ở học vấn Nho giáo nhưng ông đã sáng suốt nhìn nhận được những hạn chế của nó. Đó một phần là nhờ vào sự ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào nước ta. Đứng trước tình hình đó, Phan Bội Châu đã dấy lên những khát vọng cuồng nhiệt, quyết liệt:

    “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”

       Hai câu thơ cuối đã vẽ ra tư thế hiên ngang, hào hùng và không kém phần lãng mạn của người ra đi tìm đường cứu nước. Những hình ảnh thơ lớn lao, kì vĩ liên tục xuất hiện: “bể Đông”, “cánh gió”, “muôn trùng sóng bạc”,… đã góp phần tô đẹp tư thế và khát vọng của con người buổi lên đường. Tuy nhiên, ở bản dịch thơ vẫn chưa làm nổi bật được hết vẻ đẹp của bức tranh này. “Tiễn ra khơi” chỉ là một cuộc đưa tiễn bình thường như bao cuộc đưa tiễn khác, “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” mới thể hiện đầy đủ và trọn vẹn một bức tranh hoành tráng với hình tượng trung tâm là con người, xung quanh là vũ trụ rộng lớn cùng chắp cánh cho ước mơ của con người. Trên thực tế, đây là cuộc ra đi khá lặng lẽ, bí mật, nhưng qua bài thơ, tác giả đã thể hiện một tư thế hết sức hiên ngang, tự tin vào tiền đồ của đất nước. Đó được xem là một hình ảnh đẹp trong văn học, một hình ảnh vừa giàu chất sử thi lại vừa hòa quyện với cảm hứng lãng mạn.

        Bài thơ được đánh giá là một trong những thi phẩm có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Không chỉ với tư tưởng và quan niệm mới mẻ mà còn những nét nghệ thuật đặc sắc. Thi phẩm được viết với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật phù hợp với việc “nói chí” của Phan Bội Châu. Hình ảnh thơ kỳ vĩ, lớn lao góp phần lột tả trọn vẹn những khát vọng hành động và ý thức trách nhiệm của tác giả. Giọng thơ linh hoạt, sôi nổi và mạnh mẽ.

       Như vậy, cả bài thơ đã xây dựng được hình tượng người chí sĩ cách mạng với vẻ đẹp hào hùng lãng mạn. Bằng nhiệt huyết và tình yêu nước sâu nặng của mình, Phan Bội Châu đã không chỉ trở thành một nhà cách mạng mà còn trở thành một văn sĩ lớn của dân tộc, đáng được người đời sau tôn kính.

Leave an answer

Browse

14:7-5x6+12:4 = ? ( )