Môn Ngữ Văn Lớp 7 ĐỀ SỐ 9: “Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.

Question

Môn Ngữ Văn Lớp 7 ĐỀ SỐ 9: “Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe”. Đọc bài ca dao trên và trả lời các câu hỏi sau: a. Bài ca dao trên thuộc chùm ca dao nào? Bài số mấy? b. Trong bài ca dao trên tác giả dân gian sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của việc sử dụng những biện pháp tu từ đó? c. Thông qua hình ảnh những con vật quen thuộc, tác giả dân gian muốn nói tới ai?
d. Viết cảm nhận về bài ca dao than thân khiến em cảm động nhất. Giúp em bài này với ạ em cần gấp, đừng copy nguồn trên mạng nha. Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn nhiều.

in progress 0
Faith 6 phút 2022-07-29T08:18:45+00:00 2 Answers 0 views 0

Trả lời ( )

    0
    2022-07-29T08:19:50+00:00

    Câu a, Bài ca dao trên thuộc chùm ca dao than thân.

               Bài số 2

    Câu b, Trong bài ca dao trên tác giả sử dụng biện pháp tu từ :

    -điệp từ: thương thay->diễn tả nỗi lòng thông cảm , xót thương của tác giả với những số phận thấp hèn, nhỏ bé trong xã hội cũ.

    – Hình ảnh ” con tằm” “lũ kiến”,….

    – ẩn dụ, nói lên sự bộn bề của những phận người trong xã hội cũ.

    -câu hỏi tu từ: “kiếm ăn được mấy”, “biết ngày nào thôi”, “có người nào nghe”.-> miêu tả nỗi buồn của con vật khi làm lụng vất vả mà k ai thấu.. cũng như nỗi bất hạnh của người nông dân trong xh cũ.

    Câu c, Thông qua những hình ảnh con vật quen thuộc, tác giả dân gian muốn nói tới người nông dân trong xã hội cũ với số phận bất hạnh và khổ sở, bất công.

    Câu d,

       Trong ca dao, người xưa có thói quen khi nhìn nhận sự vật thường hay liên hệ đến cảnh ngộ của mình, vận vào thân phận mình. Họ đồng cảm với những con vật bé nhỏ, tội nghiệp (con sâu, cái kiến, con cò, con vạc, con hạc giữa trời, con hạc đầu đình, con cuốc kêu sương, con cuốc kêu ra máu,…) bởi nghĩ rằng chúng cũng có số kiếp, thân phận khốn khổ như mình. Những hình ảnh có tính chất ẩn dụ trong các câu hát kết hợp với bút pháp miêu tả chân thực khiến cho những cảnh ngộ thương tâm gây xúc động thấm thía.

           Tằm ăn lá dâu, nhả ra tơ để con người lấy tơ dệt thành lụa, lĩnh, gấm, vóc… những mặt hàng may mặc quý giá phục vụ cho tầng lớp thượng lưu giàu có. Đã là kiếp tằm thì chỉ ăn lá dâu, thứ lá tầm thường mọc nơi đồng ruộng, bãi sông. Mà con tằm bé nhỏ kia ăn được là bao? Mượn hình ảnh ấy, người lao động ngụ ý nói đến sự bóc lột quá đáng của giai cấp thống trị đối với họ. Công sức họ bỏ ra quá nhiều mà hưởng thụ dường như chẳng là mấy. Điều ấy dẫn đến kiếp sống nhọc nhằn, nghèo đói kéo dài, tưởng như không thể tìm ra lối thoát.

           Câu hát: “Thương thay hạc lánh đường mây/ Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi” diễn tả sự chia li bất đắc dĩ giữa người đi xa với những người thân yêu, với mảnh đất chôn nhau cắt rốn để tha phương cầu thực, để trốn thuế trốn sưu. Con đường mưu sinh trước mặt quá đỗi gập ghềnh, nguy hiểm. Người gạt nước mắt ra đi, biền biệt bóng chim tăm cá, như hạc lánh đường mây, như chim bay mỏi cánh, biết đến bao giờ được trở lại cố hương, sum vầy cha con, chồng vợ? Kẻ ở nhà đỏ mắt thấp thỏm lo lắng, đợi trông. Trong vô vàn nỗi khổ của kiếp người, có nỗi khổ nào bằng sinh li, tử biệt

            Câu hát cuối: “Thương thay con cuốc giữa trời/ Dầu kêu ra máu có người nào nghe” ý thơ lấy từ sự tích vua Thục Đế mất nước, hận mà chết rồi biến thành con chim đỗ quyên hay còn gọi là chim cuốc, chim đa đa, cứ hè đến là kêu ra rả đến trào máu họng. Nội dung câu hát này nói đến nỗi khổ sở, oan khuất của kẻ nghèo. Bao nỗi đau đớn do áp bức bất công gây ra cũng đành nuốt cả vào lòng bởi trời thì cao, đất thì dày, có kêu cũng chẳng thấu tới đâu. Khác chi tiếng kêu của con chim cuốc cứ da diết, khắc khoải vang vọng giữa thinh không mà nào có ai để ý

           Cách mở đầu mỗi câu đều bằng từ cảm thán (Thương thay… Thương thay…) tạo ra âm điệu ngậm ngùi, mang đậm nỗi sầu thương thân, trách phận. Khe khẽ ngâm nga, ta sẽ thấy bài ca dao trên giống như một tiếng thở dài hờn tủi và tuyệt vọng. Đọc những câu ca dao than thân giúp chúng ta cảm thông, xót thongw trc hoàn cảnh của con người trong xã hội cũ thật bất hạnh, nhưng họ vẫn rất lạc quan và vẫn giữ được phẩm chất quý giá, tiềm tàng trong bản thân mình.

  1. minhuyen
    0
    2022-07-29T08:19:53+00:00

    $Vy$ $gửi$

    $a$

    Chùm ca dao than thân. Bài số 2.

    $b$

    Trong bài ca dao trên tác giả dân gian sử dụng những biện pháp tu từ ẩn dụ

    → Ẩn dụ cho những người dân xã hội phong kiến.

    Trong bài ca dao trên tác giả dân gian sử dụng những biện pháp tu từ điệp ngữ.

    → Điệp ngữ “Thương thay” nhấn mạnh sự đau khổ của nhân vật.

    $c$

    Tác giả dân dan muốn nói về những nhân vật người dân ở xã hội phong kiến.

    $d$

    Thương thay thân phận con tằm,

    Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.

    Thương thay lũ kiến li ti,

    Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.

    Thương thay hạc lánh đường mây,

    Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

    Thương thay con cuốc giữa trời,

    Dầu kêu ra máu có người nào nghe

    Thương thay cho những con tằm chẳng ăn được mấy phải bị bóc lột, hành hạ. Thương thay lũ kiến li ti, kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi là thương cho nỗi khổ chung của những thân phận nhỏ nhoi, suốt đời xuôi ngược vất vả làm lụng mà vẫn cơ cực, nghèo khổ. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi là thương cho những cuộc đời phiêu bạt, lận đận để kiếm sống qua ngày. Tóm lại, bài thơ là lời than thở, than trách của những người dân phong kiến xưa. Bị bóc lột hành hạ.

Leave an answer

Browse

14:7-5x6+12:4 = ? ( )