Môn Ngữ Văn Lớp 9 [Dàn bài] Kể lại tâm trạng của Kiều bằng lời nàng trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Question

Môn Ngữ Văn Lớp 9 [Dàn bài] Kể lại tâm trạng của Kiều bằng lời nàng trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích Giúp em bài này với ạ em cần gấp, đừng copy nguồn trên mạng nha. Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn nhiều.

in progress 0
Adalyn 2 tháng 2022-03-28T22:42:41+00:00 2 Answers 0 views 0

Trả lời ( )

    0
    2022-03-28T22:43:52+00:00

    Dàn ý chi tiết phân tích tâm trạng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích

    I. Mở bài

    – Khái quát về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vì sợ mất tiền vốn lẫn lời nên đã hứa khi nào Kiều bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế rồi đưa nàng ra lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lòng nàng. Thân gái một mình nơi đất khách quê người, Kiều sống một mình ở lầu Ngưng Bích với tâm trạng cô đơn buồn tủi, nhớ thương về người yêu và cha mẹ.

    II. Thân bài

    1. Cảnh thiên nhiên quanh lầu Ngưng Bích

    – Không gian: rộng lớn với “non xa”, “trăng gần” ⇒ sự bát ngát của không gian càng làm cho con người trở nên cô đơn, lẻ loi.

    – Từ “xa trông”: biểu lộ rất rõ tâm trạng thẫn thờ, đón đợi.

    – Không gian, vũ trụ bao la.

    – Từ “khóa xuân”: Kiều ý thức được mình không còn trẻ tuổi, đoạn tuyệt với tuổi trẻ khi đã rơi vào chốn lầu xa.

    2. Tâm trạng của Thúy Kiều trước không gian bát ngát, mênh mông.

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    – Từ láy “bẽ bàng”: sự hổ thẹn, sự tự vấn, nỗi chán nản hòa với buồn tủi đang tràn ngập trong tâm trạng Kiều.

    3. Nỗi nhớ của Kiều khi đứng trước lầu Ngưng Bích

    – Kiều nhớ tới Kim Trọng

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    + Chữ “tưởng”: hồi tưởng, nhớ lại

    + Nhớ lại đêm thề nguyền dưới trăng: “chén đồng” – chén rượu thề nguyền, đồng lòng, đồng dạ mà Thúy Kiều và Kim Trọng đã uống dưới ánh trăng.

    + Nhớ về Kim Trọng nên đau đớn hình dung ở Liêu Dương cách trở, xa xôi, chàng không hề hay biết Kiều đã bán mình chuộc cha mà vẫn đang mong chờ tin tức và Kiều cảm thấy có lỗi:

    Bên trời góc bể bơ vơ,

    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

    + Động từ “gột rửa”: diễn tả tấm lòng thủy chung, mối tình đầu đẹp đẽ không thể gột rửa được.

    ⇒ Nỗi nhớ người yêu da diết, đau đáu.

    4. Nỗi nhớ cha mẹ

    – Nếu nhớ đến Kim Trọng, Kiều “tưởng” thì nhớ đến cha mẹ nàng lại “xót”.

    – Kiều xót khi cha mẹ già yếu mà ngày ngày vẫn tựa cửa ngóng tin con.

    – Thành ngữ “Quạt nồng ấp lạnh” và điển tích “Sân Lai”: nói lên tấm lòng hiếu thảo của Kiều.

    – Nhớ về cha mẹ, Kiều tưởng tượng ra cảnh giờ đây quê nhà đã đổi thay, cha mẹ không ai chăm sóc, đỡ đần lúc về già.

    – Cụm từ “cách mấy nắng mưa”: vừa nói về thời gian xa cách qua bao mùa mưa nắng vừa nói lên sự tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với con người và cảnh vật.

    – Nhớ về cha mẹ, Kiều luôn nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục “Nhớ ơn chín chữ cao sâu”.

    ⇒ Kiều là một con người hiếu thảo, thủy chung, vị tha, luôn nghĩ cho người khác trước khi nghĩ cho mình.

    – Lí giải: Kiều nhớ đến người yêu trước khi nhớ đến Kim Trọng

    + Khi đặt chung giữa hai chữ tình và hiếu, Kiều đã tạm yên với chữ hiếu bởi khi bán mình chuộc cha, Kiều đã phẩn nào đền đáp được công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ. Còn với Kim Trọng, trước khi về Liêu Dương chịu tang chú, chàng đã kỳ vọng rất nhiều vào Kiều. Nhưng giờ đây, tấm thân của Kiều đã hoen ố, nên nàng càng ân hận và day dứt hơn.

    + Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí.

    ⇒ Thể hiện sự tinh tế trong ngòi bút miêu tả tâm lí của Nguyễn Du.

    ⇒ Kiều hiện lên là một người con gái thủy chung, hiếu thảo và đầy lòng vị tha.

    5. Kiều quay về với thực tại

    – Tám câu thơ cuối là bức tranh cảnh vật được khắc họa qua điệp từ “buồn trông”.

    – Mỗi cảnh vật đều mang những tâm trạng, sự khắc khoải riêng.

    – Kiều càng lúc càng chìm đắm trong nỗi buồn của riêng mình.

    – “Ầm ầm”: như dự báo những biến cố sẽ ập xuống đời Kiều sắp diễn ra.

    * Nghệ thuật lấy cảnh làm nền cho con người đã làm toát lên nỗi cô đơn, vô vọng của Kiều trước vận mệnh của chính mình.

    III. Kết bài

    – Nội dung: Đoạn trích thể hiện nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ và sự lo lắng cho số phận lênh đênh của Kiều. Tấm lòng ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp phẩm chất của con người, đặc biệt là người phụ nữ

    ⇒ Đây là biểu hiện cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

    – Nghệ thuật: ngôn ngữ độc thoại nội tâm, hình ảnh, từ ngữ tinh tế, tả cảnh ngụ tình.

    0
    2022-03-28T22:43:54+00:00

    I. Mở bài

    – Khái quát về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vì sợ mất tiền vốn lẫn lời nên đã hứa khi nào Kiều bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế rồi đưa nàng ra lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lòng nàng. Thân gái một mình nơi đất khách quê người, Kiều sống một mình ở lầu Ngưng Bích với tâm trạng cô đơn buồn tủi, nhớ thương về người yêu và cha mẹ.

    II. Thân bài

    1. Cảnh thiên nhiên quanh lầu Ngưng Bích

    – Không gian: rộng lớn với “non xa”, “trăng gần” ⇒ sự bát ngát của không gian càng làm cho con người trở nên cô đơn, lẻ loi.

    – Từ “xa trông”: biểu lộ rất rõ tâm trạng thẫn thờ, đón đợi.

    – Không gian, vũ trụ bao la.

    – Từ “khóa xuân”: Kiều ý thức được mình không còn trẻ tuổi, đoạn tuyệt với tuổi trẻ khi đã rơi vào chốn lầu xa.

    2. Tâm trạng của Thúy Kiều trước không gian bát ngát, mênh mông.

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    – Từ láy “bẽ bàng”: sự hổ thẹn, sự tự vấn, nỗi chán nản hòa với buồn tủi đang tràn ngập trong tâm trạng Kiều.

    3. Nỗi nhớ của Kiều khi đứng trước lầu Ngưng Bích

    – Kiều nhớ tới Kim Trọng

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    + Chữ “tưởng”: hồi tưởng, nhớ lại

    + Nhớ lại đêm thề nguyền dưới trăng: “chén đồng” – chén rượu thề nguyền, đồng lòng, đồng dạ mà Thúy Kiều và Kim Trọng đã uống dưới ánh trăng.

    + Nhớ về Kim Trọng nên đau đớn hình dung ở Liêu Dương cách trở, xa xôi, chàng không hề hay biết Kiều đã bán mình chuộc cha mà vẫn đang mong chờ tin tức và Kiều cảm thấy có lỗi:

    Bên trời góc bể bơ vơ,

    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

    + Động từ “gột rửa”: diễn tả tấm lòng thủy chung, mối tình đầu đẹp đẽ không thể gột rửa được.

    ⇒ Nỗi nhớ người yêu da diết, đau đáu.

    4. Nỗi nhớ cha mẹ

    – Nếu nhớ đến Kim Trọng, Kiều “tưởng” thì nhớ đến cha mẹ nàng lại “xót”.

    – Kiều xót khi cha mẹ già yếu mà ngày ngày vẫn tựa cửa ngóng tin con.

    – Thành ngữ “Quạt nồng ấp lạnh” và điển tích “Sân Lai”: nói lên tấm lòng hiếu thảo của Kiều.

    – Nhớ về cha mẹ, Kiều tưởng tượng ra cảnh giờ đây quê nhà đã đổi thay, cha mẹ không ai chăm sóc, đỡ đần lúc về già.

    – Cụm từ “cách mấy nắng mưa”: vừa nói về thời gian xa cách qua bao mùa mưa nắng vừa nói lên sự tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với con người và cảnh vật.

    – Nhớ về cha mẹ, Kiều luôn nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục “Nhớ ơn chín chữ cao sâu”.

    ⇒ Kiều là một con người hiếu thảo, thủy chung, vị tha, luôn nghĩ cho người khác trước khi nghĩ cho mình.

    – Lí giải: Kiều nhớ đến người yêu trước khi nhớ đến Kim Trọng

    + Khi đặt chung giữa hai chữ tình và hiếu, Kiều đã tạm yên với chữ hiếu bởi khi bán mình chuộc cha, Kiều đã phẩn nào đền đáp được công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ. Còn với Kim Trọng, trước khi về Liêu Dương chịu tang chú, chàng đã kỳ vọng rất nhiều vào Kiều. Nhưng giờ đây, tấm thân của Kiều đã hoen ố, nên nàng càng ân hận và day dứt hơn.

    + Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí.

    ⇒ Thể hiện sự tinh tế trong ngòi bút miêu tả tâm lí của Nguyễn Du.

    ⇒ Kiều hiện lên là một người con gái thủy chung, hiếu thảo và đầy lòng vị tha.

    5. Kiều quay về với thực tại

    – Tám câu thơ cuối là bức tranh cảnh vật được khắc họa qua điệp từ “buồn trông”.

    – Mỗi cảnh vật đều mang những tâm trạng, sự khắc khoải riêng.

    – Kiều càng lúc càng chìm đắm trong nỗi buồn của riêng mình.

    – “Ầm ầm”: như dự báo những biến cố sẽ ập xuống đời Kiều sắp diễn ra.

    * Nghệ thuật lấy cảnh làm nền cho con người đã làm toát lên nỗi cô đơn, vô vọng của Kiều trước vận mệnh của chính mình.

    III. Kết bài

    – Nội dung: Đoạn trích thể hiện nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ và sự lo lắng cho số phận lênh đênh của Kiều. Tấm lòng ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp phẩm chất của con người, đặc biệt là người phụ nữ

    ⇒ Đây là biểu hiện cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

    – Nghệ thuật: ngôn ngữ độc thoại nội tâm, hình ảnh, từ ngữ tinh tế, tả cảnh ngụ tình.

Leave an answer

Browse

14:7-5x6+12:4 = ? ( )