Môn Ngữ Văn Lớp 9 Phân tích bài thơ Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy (không chép mạng).

Question

Môn Ngữ Văn Lớp 9 Phân tích bài thơ Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy (không chép mạng). Giúp em bài này với ạ em cần gấp, đừng copy nguồn trên mạng nha. Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn nhiều.

in progress 0
Eloise 3 ngày 2022-01-13T20:02:30+00:00 2 Answers 0 views 0

Trả lời ( )

    0
    2022-01-13T20:04:03+00:00

    Mở bài:

    Nguyễn Duy là gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ trong những năm chống Mỹ. Ông rất nổi tiếng với những bài thơ ngợi ca cuộc sống con người Việt Nam trong những năm chiến tranh ác liệt như bài “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”…Bài thơ “Ánh trăng” sáng tác năm 1978, sau khi đất nước thống nhất được ba năm, tại TP. Hồ Chí Minh. Bài thơ đã ghi lại một thoáng cảm xúc, một cái giật mình nhắc nhở đầy ý nghĩa. gợi suy nghĩ sâu xa trong lòng người đọc về cách sống sao cho trọn vẹn, thủy chung. Nó không chỉ súc tích về mặt nội dung mà còn độc đáo về nghệ thuật, đặc biệt như những khổ thơ sau:

    (trích đoạn thơ đề yêu cầu phân tích)

    Thân bài:
    Phân tích ý nghĩa của hình tượng ánh trăng:

    Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian, trong đó ánh trăng là hình tượng xuyên suốt và giàu ý nghĩa biểu tượng (mang nhiều ý nghĩa). Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

    “Hồi nhỏ sống với đồng

    với sông rồi với bể

    hồi chiến tranh ở rừng

    vầng trăng thành tri kỷ”

    Bằng nghệ thuật liệt kê: đồng, sông, bể, rừng; điệp từ kết hợp câu thơ tự sự, khổ thơ một đã nêu bật mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa nhà thơ và vầng trăng. Trăng gắn liền với những kỷ niệm của tuổi thơ trên quê hương yêu dấu, rồi trăng lại gắn liền với quãng thời gian đi bộ đội , thời gian sống và chiến đấu nơi núi rừng đầy gian khổ, ác liệt. Mối quan hệ ấy thân thiết, tự nhiên đến nỗi gần như đi đâu, làm gì cũng có nhau nên “vầng trăng” đã trở thành bạn “tri kỷ”. 

    Và hai người bạn “tri kỷ” ấy gắn bó với nhau bằng tình cảm mới mộc mạc, thủy chung làm sao:

    “Trần trụi với thiên nhiên

    hồn nhiên như cây cỏ

    ngỡ không bao giờ quên

    cái vầng trăng tình nghĩa”

    Với hình ảnh so sánh “hồn nhiên như cây cỏ” kết hợp với biện pháp nhân hóa “vầng trăng tình nghĩa”, khổ thơ đã gợi trong lòng người đọc về một quãng đời sống hồn nhiên, chân chất trong thiếu thốn, gian khổ nhưng không thiếu những niềm vui và hạnh phúc. Con người, từ một cậu bé làng quê, luôn hòa mình với ruộng đồng mênh mông đến anh lính trẻ quen gian khó từ trong rừng, nhưng tâm hồn lãng mạn, không ai có thể nghĩ rằng sẽ quên được “cái vầng trăng tình nghĩa”.

    Ấy vậy mà từ khi kết thúc chiến tranh về thành phố sống trong hòa bình thì “cái vầng trăng tình nghĩa” ấy – trong cái nhìn của nhân vật trữ tình đã không còn như xưa nữa:

    “Từ hồi về thành phố

    quen ánh điện cửa gương

    vầng trăng đi qua ngõ

    như người dưng qua đường”

    Hoàn cảnh đã tác động đến con người, làm thay đổi con người. Điều đó không có gì khó hiểu. Không còn chiến tranh bom rơi, đạn nổ. Chuyển từ rừng núi ra thành phố, chuyển từ dưới hầm sâu hoặc những căn nhà nhỏ, mái lán đơn sơ nơi chiến khu, căn cứ vào căn phòng hiện đại, sáng choang với những cửa gương và ánh sáng điện…dễ làm người ta quên lãng quá khứ, kể cả: vầng trăng tình nghĩa. Vầng trăng vẫn như xưa, vẫn đi qua phố, qua ngõ nhà anh nhưng bây giờ anh hoàn toàn dửng dưng coi cái vầng trăng ấy như “người dưng qua đường” vì anh đâu còn cần đến nó nữa. 

    Với những biện pháp liệt kê “ánh điện”, “cửa gương”,…; hình ảnh so sánh “vầng trăng” như “người dưng qua đường”, khổ thơ hai đã khơi đúng vào niềm trắc ẩn trong lòng người, khơi đúng vào cái tình, cái nghĩa, cái thủy chung của con người. “Vầng trăng” giờ đây không đơn thuần là đại diện cho thiên nhiên mà nó đã mang ý nghĩa biểu tượng cho quá khứ sâu nặng, tấm lòng nghĩa tình, luôn gắn bó, thủy chung của nhân dân. “Vầng trăng” trước sau vẫn vậy nhưng lòng người thì đã đổi thay, đã trở thành vô cảm, đã lãng quên quá khứ nhọc nhằn, gian khổ mà vô cùng oanh liệt mất rồi. Đọc đến đây ta bỗng nhiên cảm thấy sao mà xót xa, nghẹn ngào!

    Bỗng một tình huống bất ngờ xảy ra. Đó là sự cố mất điện:

    “Thình lình đèn điện tắt

    phòng buyn-đinh tối om

    vội bật tung cửa sổ

    đột ngột vầng trăng tròn”

    Trong phút chốc cả căn phòng trong tòa cao ốc “tối om” khiến tác giả đã vốn quen với ánh sáng điện không thể chịu nổi cảnh “tối om” ấy. Ba động từ “vội”, “bật”, “tung” đặt liền nhau như diễn tả sự khó chịu và hành động khẩn trương, hối hả của tác giả để đi tìm nguồn sáng. Và hình ảnh “vầng trăng tròn” tình cờ mà tự nhiên, đột ngột hiện ra vằng vặc giữa trời, chiếu vào căn phòng tối om, rồi chiếu lên khuôn mặt đang ngửa lên nhìn trời, nhìn trăng kia đã gây một ấn tượng mạnh mẽ. Vầng trăng vẫn tròn đầy, vẫn lung linh tỏa sáng, soi tỏ những góc khuất trong lòng con người. Nó như đánh thức những gì tốt đẹp nhất đang bị che phủ bởi cuộc sống hiện tại ồn ào, bon chen:

    “Ngửa mặt lên nhìn mặt

    có cái gì rưng rưng

    như là đồng là bể

    như là sông là rừng”

    Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đang tập trung, chú ý, mặt đối mặt, mắt nhìn mắt trực tiếp…và cảm xúc dâng trào. Đọc đến đây , ta lại bỗng nhớ đến những câu thơ rất nổi tiếng của Lý Bạch – một nhà thơ lớn của Trung Quốc đời Đường:

    “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

    Cúi đầu nhớ cố hương”

    Chính trong khoảnh khắc đối mặt giữa người với vầng trăng ấy đã làm ùa dậy trong tâm trí nhà thơ bao kỉ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh của thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu: “như là đồng là bể; như là sông là rừng”. Những hình ảnh ấy bỗng hiện hình tỏng nỗi nhớ, trong cảm xúc “rưng rưng” của một con người đang sống giữa phố phường hiện đại. Hình ảnh nhân vật trữ tình – nhà thơ – trong tư thế lặng im “ngửa mặt lên nhìn mặt, có cái gì rưng rưng” thật giàu chất tạo hình đã toát lên một cảm xúc thiết tha, xúc động có phần như vừa ân hận vừa thành kính đối với quá khứ mà mình đã đi qua, đã sống, đã gắn bó, thậm chí đã để lại một phần máu thịt. 

    “Vầng trăng” ở đây chứa đựng bao ý nghĩa: Trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, và hơn thế trăng còn là vẻ đẹp bình dị, vĩnh hằng của cuộc sống. Cho nên:

    “Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình”

    Hình ảnh vầng trăng “cứ tròn vành vạnh” ở khổ thơ cuối, ngoài nghĩa đen, còn có ý nghĩa tượng trưng cho sự vẹn nguyên, chung thủy, nhân hậu, bao dung của thiên nhiên, của cuộc đời, của con người, của nhân dân, và đất nước, khiến người đọc ngỡ ngàng, xúc động. Mặc cho con người “vô tình”, vầng trăng vẫn độ lượng, bao dung. Hình ảnh nhân hóa “ánh trăng im phăng phắc” thật có ý nghĩa biết bao. Ánh trăng ấy chính là người bạn, là nhân chứng nghĩa tình đang nghiêm khắc nhắc nhở con người. Ai có thể vô tình, lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ tình nghĩa năm nào thì vẫn luôn tràn đầy, bất diệt. Và điều đó càng làm tăng thêm nỗi dằn vặt, ân hận trong tâm trạng con người. Nó khiến con người phải “giật mình”. Cái “giật mình” ở đây là cảm giác và phản xạ tâm lý tự nhiên, có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải thay đổi cách sống. Cái “giật mình” như tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được quên quá khứ, phản bội quá khứ. 

    Đánh giá chung

    Bài thơ như một câu chuyện riêng, có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giọng điệu vừa tâm tình, vừa trầm lắng suy tư, phù hợp với mạch triết lý toàn bài, hình ảnh giàu tính biểu cảm. Cất lên như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở, bài thơ không chỉ có ý nghĩa với một lớp người, một thế hệ vừa mới đi qua chiến tranh, mà còn có ý nghĩa đối với nhiều người, nhiều thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề thái độ đối với quá khứ, với những người đã khuất và với cả chính mình: đừng bao giờ lãng quên quá khứ, hãy thủy chung với nghĩa tình đẹp đẽ, bình dị của đất nước, của nhân dân. 

    Kết bài:

    Tóm lại, “Ánh trăng” là một bài thơ hay, hàm chứa một bài học đạo lý sâu sắc. Nó có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở chúng ta – những người đọc – một thái độ sống phải biết “uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thủy chung cùng với quá khứ. Đó chính là truyền thống đẹp đẽ của dân tộc mà chúng ta cần phải biết giữ gìn, bảo vệ và phát huy. Học bài thơ, hiểu bài thơ, em càng thấm thía về cách sống, cách cư xử của mình với ông bà, cha mẹ, thầy cô… (liên hệ bản thân).

    0
    2022-01-13T20:04:25+00:00

    Bài thơ “Ánh trăng” ra đời vào năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc được ba năm. Trong suốt ba năm ấy không phải ai cũng còn nhớ những nghĩa tình trong quá khứ. Tác giả Nguyễn Duy viết bài thơ này như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình và với mọi người về lẽ sống nghĩa tình thủy chung:
    Hồi nhỏ sống với đồng
    với sông rồi với bể
    hồi chiến tranh ở rừng
    vầng trăng thành tri kỉ

    Khổ thơ đầu mở ra như những lời tự sự ghi lại những dòng hồi ức của tác giả về quá khứ. Bằng sự vận động của thời gian gắn bó với sự trưởng thành của nhà thơ, người đọc như thấy thấp thoáng đâu đây bóng dáng một cậu bé hồn nhiên gắn liền với những người bạn khổng lồ: “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” trong quá khứ. Tuổi thơ chúng ta mấy ai có được những người bạn tri âm, những khoảnh khắc giao hòa diệu vợi với thiên nhiên thôn quê như thế? Thuở bé, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng đã có lần được “chơi” với trăng, được tắm mình trong thế giới thiên nhiên bao la nơi chính sân nhà mình:
    Ông trăng tròn sáng tỏ
    Soi rõ sân nhà em

    Tuổi thơ tác giả được nô đùa với ánh trăng, với thiên nhiên, chan hòa đến mức “trần trụi”không còn khoảng cách:
    Trần trụi với thiên nhiên
    hồn nhiên như cây cỏ

    Đó là tình cảm gắn chặt keo sơn, để rồi đến khi tham gia kháng chiến, vầng trăng trở thành tri kỉ của người lính:
    Hồi chiến tranh ở rừng
    vầng trăng thành tri kỉ

    Ánh trăng từ giã “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” để cùng người lính vào chiến trường, làm một người bạn tinh thần trong kháng chiến. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành “đôi bạn tri kỉ”. Ta bắt gặp những giây phút ấm nồng của sự gắn chặt keo sơn ấy trong thơ người lính lái xe Phạm Tiến Duật:
    Cái vết thương xoàng mà đưa viện
    Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
    Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
    Nôn nao ngồi đợi nhớ lưng đèo

    hay giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới với tư thế bồng súng:
    đầu súng trăng treo
    (Đồng chí_Chính Hữu)

    và ngay cả trong thơ Hồ Chí Minh, vầng trăng đã trở nên quá đỗi quen thuộc với người lính:
    “Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”

    Trăng đã chia ngọt sẻ bùi suốt chặng đường hành quân, suốt những thời khắc nhuốm màu rực lửa bom đạn, trăng cùng người lính đánh phá, chống trả mưa bom quân thù:
    Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
    Vượt qua quầng lửa mọc lên cao
    (Phạm Tiến Duật)

    …Trong giây phút khăng khít ấy, người lính đã tự hứa với bản thân mình
    Ngỡ không bao giờ quên
    Cái vầng trăng tình nghĩa

    Vậy mà cuối cùng, cái “lời hứa” ấy đành chôn vùi vào quên lãng với dòng chảy bộn bề của thời gian. Lời hứa năm xưa nay chỉ được nhớ lại bằng từng chữ “hồi” như một điệp khúc. “Hồi” – chỉ là “hồi ấy” thôi, còn bây giờ, nghĩa tình năm xưa bị vứt bỏ. Chữ “hồi” như một điểm dừng chân giữa ranh giới ngày ấy và hôm nay để bây giờ đưa người đọc lần về quá khứ. Lời thơ mỗi lúc một nhẹ nhàng, như lời thủ thỉ tâm tình kéo độc giả cuốn vào mẩu chuyện nhỏ. Điều “ngỡ không bao giờ quên ấy” nay đã không còn nữa
    Từ hồi về thành phố
    Quen ánh điện cửa gương
    Vầng trăng đi qua ngõ
    Như người dưng qua đường

    Vầng trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung. Hình ảnh ánh trăng đang dần được nhân hóa lên: lặng lẽ “đi qua ngõ”… Ba năm sau kháng chiến, hòa bình được lập lại trên đất nước phồn hoa, trên thành phố hoa lệ. Cái thiên nhiên vĩ đại nguyên sơ ngày xưa: “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” biến mất, thay vào đó là một kích cỡ nhân tạo, cũng đồ sộ nhưng lộng lẫy hơn, uy nghi hơn, chói lòa hơn. Cuộc đời đổi thay, con người thay đổi, người ta bon chen hơn, ích kỉ hơn, vật chất hơn, gác lại cuộc sống tâm hồn vào góc quá khứ. Cũng như con đường lúc thẳng lúc vòng, lúc ngoặt, cuộc đời cũng có những lúc như thế! Trở lại cuộc sống thị thành của những con người vừa về thành phố, ta bắt gặp người lính năm xưa nay đang sống trong bủa vây tiện nghi sang trọng “ánh điện cửa gương” và những phòng “buyn-đinh”cao chót vót. Cuộc sống quá sung túc, đầy đủ đã khiến cho “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào dẫn vùi vào quên lãng. Những no đủ của cuộc sống hấp dẫn hơn cái tình nghĩa năm xưa hay sao? Hấp dẫn hơn cả quá khứ gian lao nơi chiến trường thắm tình đồng chí, đồng đội. Trăng nay thành “người dưng”, người xa lạ không quen không biết, tác giả không còn nhận ra người bạn tri kỉ hôm nào. Với kết cấu đối lập, “ánh điện cửa gương” sáng lòa lộng lẫy và “ánh trăng” dịu nhẹ thanh cao, tác giả như đang muốn bộc lộ một lời tự thú chân thành từ tận đáy sâu tấm lòng tác giả:
    Thình lình đèn điện tắt
    Phòng buyn-đinh tối om
    Vội bật tung cửa sổ
    Đột ngột vầng trăng tròn

    “Thình lình” và “đột ngột” không khỏi làm người đọc giật mình trước sự cố “mất điện” tại thành phố phồn hoa. Lúc ấy, mọi tầm cỡ tiện nghi bỗng trở về với nấc thanh số không tròn trĩnh. Cử chỉ “vội bật tung cửa sổ” như một phản xạ tự nhiên trong bóng tối con người hướng ra ánh sáng, chứ thực sự đó không phải là chủ ý đi tìm lại người bạn năm xưa của người lính. Và rồi không chỉ bạn đọc, mà ngay cả tác giả cũng phải giật mình khi “đột ngột vầng trăng tròn”. Ánh trăng năm xưa nay đang đứng im trước mặt người lính. Ánh trăng ấy vẫn đẹp, vẫn tròn, vẫn nồng diệu một thứ ánh sáng huyền ảo, lung linh. Nhưng vầng trăng kia xuất hiện đâu phải chỉ “cứu giúp” nguồn ánh sáng cho người lính mà nó còn mang lại sự xáo trộn trong tâm hồn người thi sĩ:
    Ngửa mặt lên nhìn mặt
    có cái gì rưng rưng
    như là đồng là bể
    như là sông là rừng

    Hai khuôn mặt tri âm tri kỉ ngày nào giờ đang đối diện nhau. Nguyễn Duy gặp lại người bạn năm xưa, kéo theo cả một vùng trời thôn quê quá khứ. Hai bên chẳng nói chẳng rằng, vầng trăng chỉ đứng yên vậy mà người lính lại thấy “có cái gì rưng rưng”. Kỉ niệm tuổi thơ ngày nào giờ lại ùa về đánh thức tâm hồn người chung cuộc
    như là đồng là bể
    như là sông là rừng

    Cảm xúc dâng trào mạnh mẽ với nhịp thơ gấp gáp dồn dập “như là”. Phải chăng đó chính là xúc cảm trong nỗi niềm xót xa ân hận vừa chợt nhớ lại quá khứ? Hóa ra kí ức chỉ tạm lắng xuống do con người quá mải mê tìm những thứ vật chất vô danh trước cuộc sống bộn bề bởi khi có tác động, nó lại sống dậy mạnh mẽ như chưa từng quên đi.
    Trăng cứ tròn vành vạnh
    kể chi người vô tình
    ánh trăng im phăng phắc
    đủ cho ta giật mình

    Hình ảnh ánh trăng “tròn vành vạnh” cho thấy quá khứ ngày đó nay vẫn vẹn nguyên, vẫn đẹp viên mãn, vẫn đầy đủ không khiếm khuyết dù ai kia vô tình, đổi thay. Và để rồi bởi chính trăng vô ngôn, không một lời trách móc đã khiến cho “người vô tình” nay bỗng “giật mình”tỉnh ngộ. Cái “im phăng phắc” của trăng vừa biểu thị sự bao dung độ lượng, vừa gây nỗi ám ảnh, dằn vặt bởi im lặng chính là sự trừng phạt đích đáng nhất dành cho những người lãng quên quá khứ, lãng quên lời hứa năm xưa của mình. Chính cái im lặng của ánh trăng đã gây xáo trộn những mơ mộng “ánh điện cửa gương” của con người, khiến con người phải dày xé tâm can, phải dằn vặt đau đớn.

    Ánh trăng cũng chính là một biểu tượng thức tỉnh con người trở về với lối sống ân nghĩa thủy chung, “uống nước nhớ nguồn”. “Tòa án lương tâm” của con người ngay lập tức mở ra khi đối diện với quá khứ nghĩa tình, để con người nhận ra mình đang đứng ở đâu khi đã quên đi quá khứ. Người lính “giật mình” để nhìn lại chính mình, “giật mình” để thức tỉnh lương tam, “giật mình” để trân trọng lại quá khứ và “giật mình” để trở về với những giá trị cao đẹp vĩnh gằng. Cũng giống như Lí Bạch khi xa quê:
    Cử đầu vọng minh nguyệt
    Đê đầu tư cố hương
    (ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    Cúi đầu nhớ cố hương)

    Giữa miền đất xa lạ, Lí Bạch nhìn vầng trăng để nhớ về quê hương mình, như níu lấy chút gì đó để sưởi ấm tam hồn người lữ khách. Còn với Nguyễn Duy, vầng trăng trên bầu trời kia còn gợi lại cả quá khứ đặc biệt làm cho tâm hồn thi sĩ và bạn đọc trở về với chính mình.

    Bằng hình tượng “ánh trăng” thấm đượm ý nghĩa nhân văn, Nguyễn Duy đã gửi tới bạn đọc một lời nhắn gửi, một bức thông điệp thiết tha: “Hãy lắng lại một chút cái bận bịu cuộc sống để nhìn lại bản thân mình”. Qua thể thơ ngũ ngôn với giọng thơ chân thành, nhỏ nhẹ mà thấm sâu, hình ảnh giàu biểu tượng với ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ về một lẽ sống ân nghĩa, thủy chung cao quý trong cuộc sống. Ngoài ra với chữ cái đầu câu thơ không viết hoa, tác giả đã thành công khi để cho mạch cảm xúc trôi theo dòng chảy thời gian, theo mạch tự sự để bạn đọc có thể giao cảm với một tâm hồn đang hướng tới cái đẹp đáng trân trọng. Như Anatole Francel đã nói: “Đừng đánh mất quá khứ vì với quá khứ, người ta xây dựng tương lai”.

Leave an answer

Browse

14:7-5x6+12:4 = ? ( )