Giáo án dạy thêm, phụ đạo ngữ văn 9 học kì 2 mới 2020-2021

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

LUYỆN TẬP :                             

 VĂN BẢN:                      BÀN VỀ ĐỌC SÁCH

KHỞI NGỮ

A. MỤC TIÊU.

* Giúp học sinh:

- Hiểu, cảm nhận được nghệ thuật lập luận, giá trị nội dung và ý nghĩa thực tiễn của văn bản.

- Nắm được đặc điểm, công dụng của khởi ngữ.

- Biết đặt câu có khởi ngữ.

B. CHUẨN BỊ.

1. Giáo viên: Phiếu học tập, bảng phụ

2. Học sinh: Soạn bài theo hướng dẫn

C. LÊN LỚP

1. Kiểm tra bài cũ.   Thế nào là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

2. Dạy - học bài mới.

Hoạt động của thày

Hoạt động của trũ

Nội dung cần đạt

Ghi chú

Hướng dẫn hs Củng cố kiến thức

I. Củng cố kiến thức

1.Nêu y/cầu: Hãy nhắc lại:

-Nêu hiểu biết của em về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của văn bản?

1HS nhắc lại, cả lớp nghe.

1.  Bàn về đọc sách

1. Nội dung.

- Sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên con đường phát triển của nhân loại là kho tàng kiến thức quý báu, là di sản tinh thần.

 - Đọc sách để tích luỹ và nâng cao vốn tri thức.

- Tác hại của việc đọc sách không đúng phương pháp.

- Phương pháp đọc sách đúng đắn: đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm, đọc sách cũng cần phải có kế hoạch và có hệ thống.

2. Nghệ thuật

- Bố cục chặt chẽ hợp lí.

- Dẫn dắt tự nhiên, xác đáng bằng giọng chuyện trò, tâm tình của một học giả có uy tín để làm tăng tính thuyết phục của văn bản.

- Lựa chọn ngôn ngữ giàu hình ảnh với những cách ví von cụ thể và thú vị.....

3.Ýnghĩa văn bản

Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách và cách lựa chọn sách, cách đọc sách sao cho hiệu quả.

2.Hãy nhắc lại

Em hiểu gì về khởi ngữ và đặc điểm của nó?

1HS nhắc lại, cả lớp nghe

2. Khởi ngữ

- Vị trí: đứng trước chủ ngữ

- Nằm ngoài nòng cốt câu, không có quan hệ ý nghĩa với nòng cốt câu.

- Có thể thêm các quan hệ từ.

- Công dụng: Nêu đề tài được nói đến trong câu.nên đáng tin cậy. Người kể hoàn toàn điều khiển nhịp kể.

Hoạt động 2: Hướng dẫn HS luyện tập

Hoạt động của Thầy

Hoạt động của Trò

Nội dung cần đạt

1. Tác giả đã phân tích như thế nào để làm sáng tỏ luận điểm: "Học vấn không chỉ là chuyện đọc scsh, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn"?

2. Tác giả đã phân tích những lí do phải chọn sách để đọc như thế nào?

3. Tác giả đã phân tích tầm quna trọng của cách đọc sách  như thế nào?

- HS hoạt động cá nhân.

- HS hoạt động cá nhân.

- HS thảo luận bàn, trả lời cá nhân.

1.Bài 1.

- Phân tích luận điểm “ Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn”

+ Thứ nhất, học vấn là thành quả tích luỹ của nhân loại được lưu giữ và truyền lại cho đời sau.

+ Thứ hai, bất kì ai muốn phát triển học thuật cũng phải bắt đầu từ “kho tàng quý báu” được lưu giữ trong sách; nếu không mọi sự bắt đầu sẽ là con số không, thậm chí là lạc hậu, giật lùi.

+ Thứ ba, đọc sách là “hưởng thụ” thành quả về tri thức và kinh nghiệm hàng nghìn năm của nhân loại, đó là tiền đề chom sự phát triển học thuật của mỗi người.

2. Phân tích lí do phải chọn để đọc sách.

+ Thứ nhất, bất cứ lĩnh vực học vấn nào cũng có sách chất đầy thư viện, do đó phải biết chọn sách mà đọc.

+ Thứ hai, phải chọn những cuốn sách “ cơ bản đích thực’’ để đọc, không nên đọc những cuốn sách “ vô thưởng, vô phạt”.

+ Thứ ba, đọc sách cũng như đánh trận, cần phảI đánh vào thành trì kiên cố, đánh bại quân địch tinh nhuệ, chiếm cứ mặt trận xung yếu; tức là phải đọc cái cơ bản nhất, cần thiết nhất cho công việc và cuộc sống của mình.

3.Phân tích cách đọc sách:

- Tham đọc nhiều mà chỉ “ liếc qua” cốt để khoe khoang là mình đã đọc sách nọ sách kia thi chẳng khác gì “chuồn chuồn đạp nước” chỉ gây ra sự lãng phí thời gian và sức lực mà thôi: “Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý. đối với việc học tập, cách đó chỉ là lừa mình dối người, đói với việc làm người thì cách đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém”.

- Đọc ít mà đọc kĩ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do đến  mức làm thay đổi khí chất.

- Có hai loại sách cần đọc là sách về kiến thức chuyên ngành, đó là hai bình diện rộng và sâu của tri thức.

H. Hãy chuyển các câu sau thành các câu có chứa thành phần khởi ngữ?

a/Người ta sợ cái uy quyền thế của quan.Người ta sợ cái uy đồng tiền của Nghị Lại.

b/Ông giáo ấy,không hút thuốc,không uống rượu.

c/Tôi cứ ở nhà tôi,làm việc của tôi.

+ HS chuyển, trả lời cá nhân, HS khác bổ sung.

2. Bài 2.

a/Quan,người ta sợ cái uy quyền thế.Nghị Lại người ta sợ cái uy của đồng tiền.

b/Thuốc,ông giáo ấy không hút,rượu,ông giáo ấy không uống.

c/Nhà tôi,tôi cứ ở,việc tôi,tôi cứ làm.

H. Viết đoạn văn từ 5-7 câu có sử dụng khởi ngữ.Gạch chân thành phần khởi ngữ sử dụng trong đoạn văn đó?

+ HS làm bài tập vào vở ,sau đó lên bảng trình bày.

3. Viết đoạn văn

*****************************************

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

LUYỆN TẬP:

 PHÉP PHÂN TÍCH VÀ PHÉP TỔNG HỢP

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

A. MỤC TIÊU.

       * Giúp HS :

- Hiểu và biết vận dụng các phép lập luận phân tích, tổng hợp khi làm văn nghị luận.

- Hiểu được nội dung của văn nghệ và sức mạnh kì diệu của nó đối với đời sống con người.

- Biết cách tiếp cận một văn bản nghị luận về lĩnh vực văn học nghệ thuật.

B. CHUẨN BỊ.

1. Giáo viên: Phiếu học tập, bảng phụ

2. Học sinh: Soạn bài theo hướng dẫn

C. LÊN LỚP

1. Kiểm tra bài cũ.   Thế nào là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

2. Dạy - học bài mới.

Hoạt động của thày

Hoạt động của trũ

Nội dung cần đạt

Ghi chú

Hướng dẫn hs Củng cố kiến thức

I. Củng cố kiến thức

1.Nêu y/cầu: Hãy nhắc lại:

-Nêu hiểu biết của em về nội dung, nghệ thuật của văn bản?

1HS nhắc lại, cả lớp nghe.

1.  Tiếng nói của văn nghệ

1. Nội dung:

- Mỗi tác phẩm văn nghệ đều chứa đựng những tư tưởng, tình cảm say sưa, vui buồn yêu ghét của người nghệ sĩ về cuộc sống, về con người; mang lại những rung cảm và nhận thức khác nhau trong tâm hồn độc giả mỗi thế hệ; tập trung khám phá, thể hiện chiều sâu tính cách, số phận, thế giới nội tâm của con người qua cái nhìn và tình cảm mang tính cá nhân của người nghệ sĩ.

- Văn nghệ giúp cho chúng ta được sống phong phú hơn, ”làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”; là sợi dây kết nối con người với cuộc sống đời thường; mang lại niềm vui, ước mơ và những rung cảm thật đẹp cho tâm hồn.

- Sức mạnh của văn nghệ: lay động cảm xúc, tâm hồn và làm thay đổi nhận thức của con người...

2. Nghệ thuật:

- Có bố cục chặt chẽ hợp lí, cách dẫn tự nhiên.

- Có lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh; dẫn chứng phong phú, thuyết phục.

- Có giọng văn chân thành, say mê làm tăng sức thuyết phục và tính hấp dẫn của văn bản.

2.Hãy nhắc lại

em hiểu thế nào là phép lập luận phân tích?

em hiểu thế nào là phép lập luận tổng hợp?

? Giữa phân tích và tổng hợp có mối quan hệ với nhau thế nào?

H. Phép tổng hợp được đặt ở vị trí nào trong bài viết này?

1HS nhắc lại, cả lớp nghe

2. Phép phân tích và tổng hợp

* Phép phân tích: Trình bày từng bộ phận của vấn đề để làm rõ nội dung sâu kín bên trong.

_ Phép tổng hợp: Là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã phân tích.

+ Không có phân tích thì không có tổng hợp.

+ Về vị trí: Phép lập luận thường được đặt ở đoạn cuối bài (phần kết luận) hay cuối đoạn.

Hoạt động 3: Luyện tập củng cố

Hoạt động của Thầy

Hoạt động của Trò

Nội dung cần đạt

1. Tìm hiểu kĩ năng phân tích và tổng hợp trong văn bản "Tiếng nói của văn nghệ", Nguyễn Đình Thi viết năm 1948.

- Giáo viên gợi ý

2. Hãy viết một đoạn văn phân tích hiện tượng nói chuyện riêng trong giờ học và tổng hợp tác hại do việc nói chuyện riêng đã dẫn đến kết quả học tập như thấ nào? (Đoạn văn 12 đến 15 câu).

* GV đánh giá, cho điểm.

- HS hoạt động nhóm. Đại diện trả lời, nhận xét.

- HS hoạt động cá nhân.Viết đoạn.2-3 em đọc trước lớp cả lớp nghe, nhận xét.

1. Bài 1.

- Luận điểm 1: Nội dung của văn nghệ

(Chú ý câu cuối cùng của luận điểm)

- Luận điểm 2: Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết đối với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh gian khổ...

(Chú ý câu cuối cùng là lời nói của Tôn-xtôi)

- Luận điểm 3: Văn nghệ có khả năng cảm hoá, sức mạnh lôi cuốn của nó thật kì diệu...

(Chý ý câu nghị luận thuyệt hay " ...Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy..." )

(Chú ý cuối cùng của luận điểm 3)

2. Bài 2. Viết đoạn văn phân tích và tổng hợp

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

LUYỆN TẬP CÁC THÀNH PHẦN BIỆT LẬP

A. MỤC TIÊU.

        Giúp HS:

- Rèn luyện để phân biệt được khởi ngữ và chủ ngữ của câu; phân biệt được các thành phần biệt lập của câu; nắm được công dụng riêng của mỗi thành phần trong câu.

B. CHUẨN BỊ

1. Giáo viên: Phiếu học tập, bảng phụ

2. Học sinh: Soạn bài theo hướng dẫn

C. LÊN LỚP

1. Kiểm tra bài cũ

             Thế nào là thành phần tình thái và thành phần cảm thán? Cho ví dụ?

2. Dạy học bài mới.

Hoạt động của thầy

Hoạt động của trò.

Nội dung cần đạt.

Hoạt động 1: HD HS ôn lại nội dung kiến thức

I.Nội dung

1.Cho HS nhắc lại:

-Thế nào là TP biệt lập?

HS nhắc lại nội dung KT đã học

1. Thành phần biệt lập: là những thành phần phụ trong câu, không tham gia diễn đạt nghĩa sự việc trong câu, dùng để biểu thị các quan hệ giao tiếp.

- Các thành phần biệt lập trong câu

-Thế nào là TP biệt lập tình thái và cảm thán? Nêu đặc điểm công dụng của từng thành phần?

- Thế nào là TP gọi - đáp, TP phụ chú?

- Đặc điểm công dụng của từng thành phần trong câu?

* GV bổ sung thêm:

* Các thành phần biệt lập:

a. TP tình thái: được dùng để thể hiện thái độ, cách nhìn của người nói đối với các sự việc trong câu.

b. TP cảm thán: được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói (vui, buồn, mừng, giận, hoảng hốt...)

c. TP gọi - đáp: là thành biệt lập, được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp. Do chức năng của nó nên TP gọi - đáp thường đứng trước cấu trúc cú pháp của câu.

- Phần gọi: chủ yếu là thiết lập qhệ giao tiếp, thu hút sự chú ý của người nghe: Này, rồi cũng phải... đấy.

- Phần đáp: chủ yếu là phản hồi, báo hiệu sự cộng tác  trong giao tiếp:  Vâng, mời cô và bác lên chơi.

d. TP phụ chú: là thành biệt lập, được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu.

TP phụ chú có tác dụng:

- Nêu điều bổ sung thêm: Lác đác hãy còn những thửa ruộng lúa con gài xanh đen, lá to bản, mũi nhọn như lưỡi lê - con gái núi rừng có khác.

- Nêu thái độ của người nói trong câu: Lão không hiểu tôi - tôi nghĩ vậy - và tôi càng buồn lắm.-Nêu xuất xứ của lời nói, ý kiến:

   Với “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố đã “xui người nông dân nổi loạn”(Nguyễn Tuân)

Hoạt động 2: HD HS luyện tập

II.Luyện tập

1.Gọi HS đọc BT1. Nêu yêu cầu  và theo dõi HS làm bài.

-Gọi HS trình bày, kết luận:

-Đọc BT, suy nghĩ, xác định, trình bày. HS n/xét, bổ sung.

Bài 1.

Xác định các thành phần tình thái và cảm thán

a. có lẽ: Tình thái

b. chắc: Tình thái

c. ôi:       Cảm thán

d. có lẽ, hình như:  Tình thái.

e. a:       Cảm thán

Bài 1. Tìm các thành phần tình thái và cảm thán trong các câu sau:

a.Thông thường, có lẽ không ai mặc quần áo chỉnh tề lại đi chân đất...

b.Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ mi là phẳng tắp.

c.Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa.

d.Nhưng còn có cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều. ấy là mụ chủ nhà. Từ ngày xảy ra chuyện ấy, hình như mụ ta lấy điều làm cho vợ chồng ông khổ ngấm, khổ ngầm là mụ thích.

e.A, đây có phải là làng cũ mà hai mươi năm trời nay tôi hằng ghi lấy trong kí ức không?

5.Gọi HS đọc BT2. Nêu yêu cầu, gọi HS trình bày.

GV kết luận.

-HS HĐCN, đọc và xác định. 1HS lên bảng trình bày.

Bài 2. Xác định các thành phần gọi - đáp, thành phần phụ chú.

ơi: TP gọi - đáp

ơi: TP gọi - đáp

vâng: TP gọi - đáp

buồng tim: TP phụ chú

mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội

 ->TP phụ chú

g. -ơi: TP gọi - đáp

- mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. ->TP phụ chú.

h. ngôi nhà chung của chúng ta ->TP phụ chú.

Bài 3. Xác định các thành phần gọi - đáp, thành phần phụ chú trong các đoạn trích sau:

a.Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!

b.Con đã về đây, ơi mẹ Tơm...

c.Vâng, đúng nhà em bác nghỉ chân.

d.Thương người cộng sản căm Tây - Nhật

   Buồng mẹ - buồng tim - giấu chúng con.

e.Mùa xuân của tôi - mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội - là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh.

g.Đẹp quá đi mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.

h.Hãy bảo vệ Trái Đất, ngôi nhà chung của chúng ta, trước những nguy cơ ô nhiễm môi trường gia tăng.

4. Nêu yêu cầu BT2: Đặt câu có TP phụ chú đứng ở giữa câu, cuối câu.

HS HĐ cá nhân, đại diện trình bày. HS khác nhận xét.

Bài 3. Đặt câu có thành phần phụ chú. VD:

- TP PC đứng ở giữa câu: d,e

- TP PC đứng ở cuối câu: g

5.Nêu yêu cầu BT6. Viết đoạn văn khoảng 5- 7 câu nêu cảm xúc của em về một tác phẩm văn học trong đó sử dụng thành phần tình thái hoặc cảm thán.

-HS viết cá nhân.

-1-2 HS trình bày

-HS khác nhận xét, bổ sung.

Bài 4. Viết đoạn văn

   *Đoạn văn tham khảo:

 “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm là một trong những bài thơ thành công viết về hình ảnh những người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Mượn âm hưởng ngọt ngào, sâu lắng, tha thiết của những khúc hát ru, tác giả đã ca ngợi lòng thương con và tình yêu quê hương đất nước của bà mẹ Tà-ôi trong một thời kì lịch sử hết sức hào hùng và oanh liệt của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Có lẽ, hình ảnh bà mẹ Tà-ôi vừa địu con vừa giã gạo, vừa lên rẫy trỉa bắp và địu con đi đấu tranh đã khơi nguồn cảm hứng cho nhà thơ, góp phần tạo nên thành công của bài thơ.

6.Nêu yêu cầu BT3: Viết đoạn văn giới thiệu về tác giả Chế lan Viên và bài thơ “Con cò” , trong đoạn văn em có sử dụng TP phụ chú. Gạch dưới TP phụ chú đó.

HS viết cá nhân.

Đại diện trình bày. HS khác nhận xét.

Bài 5. Viết đoạn văn có sử dụng TP phụ chú.

VD: Chế Lan Viên (tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan) là một nhà thơ xuất sắc của nền thơ hiện đại VN.

3.Hướng dẫn học ở nhà.

- Nắm vững đặc điểm và công dụng của khởi ngữ và các TP biệt lập.

- Làm lại hoàn chỉnh các BT.

**********************************************************************

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

  LUYỆN TẬP

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

A. MỤC TIÊU.

       Giúp HS:

-Ôn lại một hình thức nghị luận phổ biến trong đời sống: nghị luận về một sự việc, hiện tượng.

-Biết cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.

B. CHUẨN BỊ.

1. Giáo viên: Phiếu học tập, bảng phụ

2. Học sinh: Soạn bài theo hướng dẫn

C. LÊN LỚP

1. Kiểm tra bài cũ.   Thế nào là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

2. Dạy - học bài mới.

Hoạt động của thầy

Hoạt động của trò.

Nội dung cần đạt.

Hoạt động 1: HD HS ôn lại về kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.

I. Nội dung

1.Nêu yêu cầu:

-Thế nào là bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống?

-Những yêu cầu về nội dung và hình thức đối với kiểu bài này?

-Dàn bài chung của bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống?

-Các bước tiến hành làm một bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống?

1HS nhắc lại:

1.Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống: là bàn về một sự việc, h/tượng có ý nghĩa đ/với XH, đáng khen, đáng chê hay có v/đề đáng suy nghĩ.

2.Những yêu cầu:

-Về nội dung: Phải nêu rõ được sự việc, hiện tượng có vấn đề; phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến, nhận định của người viết.

-Về hình thức: Bài viết phải có bố cục mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sống động.

3.Dàn bài chung:

a.Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng có vấn đề.

b.Thân bài: Liên hệ thực tế, phân tích các mặt, đánh giá, nhận định

c.Kết bài:Kết luận, khẳng định,phủ định,lời khuyên

Hoạt động 2: HD HS  luyện tập.

II.Luyện tập

2.Cho HS làm một số BTTN

HS đọc BT, suy nghĩ trả lời.

Bài 1. Trắc nghiệm

1.Trong các đề bài sau, đề nào không thuộc đề nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống?

A. Suy nghĩ về một tấm gương học sinh nghèo vượt khó.

B. Suy nghĩ của em về câu ca dao "Nhiễu điều....thương “hau cùng”

C. Suy nghĩ của em về những con người không chịu thua số phận

D. Suy nghĩ của em về ''bệnh ngôi sao'' của một số nhân vật nổi tiếng hiện nay.

1.Trong các đề bài sau, đề nào không thuộc đề nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống?

A. Suy nghĩ về một tấm gương học sinh nghèo vượt khó.

B. Suy nghĩ của em về câu ca dao "Nhiễu điều....thương “hau cùng”

C. Suy nghĩ của em về những con người không chịu thua số phận

D. Suy nghĩ của em về ''bệnh ngôi sao'' của một số nhân vật nổi tiếng hiện nay.

2.Trong các ý sau, ý nào nêu đủ và đúng nội dung của kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng?

A.Phải nêu rõ sự việc, hiện tượng có vấn đề

B.Phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của sự việc, hiện tượng đó.

C.Chỉ ra nguyên nhân, bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết.

D.Cả ba ý trên

3. Nối ý ở cột A với yêu cầu ở cột B cho phù hợp

A

Nối

B

1. Mở bài

   a. Đối chiếu, so sánh

2.Thân bài

   b. Giới thiệu sự vật hiện tượng có vấn đề

3.Kết bài

   c. Khẳng định, phủ định, nêu bài học

   d. Phân tích các mặt, đánh giá nhận định

3. Gọi HS đọc BT2. Nêu các sv, hiện t­ượng tốt của các bạn trong nhà trường và ngoài xh?

- GV yêu cầu HS trả lời cá nhân, gọi nhận xét, GV sửa chữa.

-HS trả lời cá nhân,HS khác nhận xét, nghe GV sửa chữa.

Bài 2: Nêu các sự việc, hiện tượng tốt của các bạn trong nhà tr­ư ờng và ngoài xh

- Lòng tự trọng, tấm g­ương học tốt, học sinh nghèo vượt khó, tinh thần t­ương trợ lẫn nhau, không tham lam.

- Giúp bạn học tốt;

- Góp ý phê bình khi bạn có khuyết điểm;

- Bảo vệ cây xanh trong khuôn viên tr­ường;

- Giúp đỡ gia đình th­ương binh liệt sĩ;

- Trả lại của rơi cho ng­ười bị mất.

4. Gọi HS đọc 4 đề bài trong SGK/22. Nêu yêu cầu - Nhận xét, chỉ ra những điểm khác nhau trong cách ra đề. Sự khác nhau đó quy định cụ thể cách làm bài ntn?

- Gv cho HS thảo luận nhóm 5 phút, gọi trình bày, nhận xét, GV kết luận đúng.

HS thảo luận nhóm bàn, đại diện trình bày, nhóm khác nhận xét, bổ sung.

Bài 3: Tìm hiểu các đề bài

* Đề 1. Chỉ nêu chung chung nhiều tấm g­ơng HS nghèo vư­ợt khó, do đó ngư­ời viết phải tự tìm một số tấm gư­ơng, chủ yếu sử dụng phép phân tích, chứng minh.

* Đề 2.Bàn về di hoạ của chất độc màu da cam là vấn đề quá lớn. Cho nên đề chỉ nêu 2 sự kiện (di hoạ nặng nề do hàng chục vạn gia đình và cả n­ước lập quỹ giúp đỡ họ), và yêu cầu suy nghĩ về các sự kiện đó. Do đó cần phải biết tự hạn chế phạm vi cho gọn

- Từ việc trong đề chư­a cụ thể, phải tìm thêm một số số liệu có tính thuyết phục cao cho 2 sự kiện trên

- Phải phối hợp các ph­ương pháp, vận dụng tổng hợp nhiều phép lập luận.

* Đề3. Tư­ơng tự đề 1, như­ng ph­ương pháp bàn luận chủ yếu là giải thích và phân tích nguyên nhân, tác hại, trách nhiệm của nhiều ngư­ời (không riêng trẻ em), nhiều ngành, (không riêng ngành giáo dục)

* Đề 4.

- Truyện dài cần nắm chắc chi tiết chính

- Khi bàn bạc, phân tích và tổng hợp ý kiến, luôn chú ý bài học rút ra phù hợp với x­ưa và nay.

5 .Nêu yêu cầu: Hãy lập dàn bài cho đề bài sau?

*GV chốt lại dàn bài

HS lập dàn bài theo nhóm tổ. Đại diện trình bày, nhóm khác bổ sung.

Bài 4. Lập dàn bài .

Đề bài: Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng. Em hãy đặt một nhan đề để gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.

a.Mở bài: (Đặt nhan đề  và giới  thiệu sự việc, hiện tượng)

         Vứt rác bừa bãi là một việc làm thiếu văn hoá, văn minh.

b.Thân bài: (Phân tích các mặt, đánh giá nhận định).

* Phân tích nguyên nhân.

-Do lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác: muốn cho nhà mình sạch nên đem rác vứt ra đường hoặc sông, hồ...

-Do thói quen xấu từ lâu, tiện tay vứt bất cứ đâu: bến tà, bến xe, vườn hoa, đường đi, kể cả các nơi danh lam thắng cảnh hay chốn tôn nghiêm...

-Do không nhận thức được hành vi của mình  là vô ý thức, thiếu văn minh, làm ô nhiễm môi trường sống: cảnh quan bẩn thỉu, nhếch nhác, gây ra tai nạn bất ngờ, tạo điều kiện cho các dịch bệnh phát triển, gây tốn kém về kinh phí cho việc thu gom rác, khơi thông cống rãnh...

-Do việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chưa thường xuyên và việc xử phạt chưa triệt để.

*Đánh giá. nhận định: Đây là những hành vi thiếu văn hoá cần phê phán

c. Kết bài. (Khẳng định, phủ định, nêu bài học)

   Muốn xây dựng c/sống tốt đẹp, văn minh thì mỗi công dân phải có ý thức bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp, nâng cao ý thức đối với cộng đồng.

3.Chia nhóm cho HS viết bài. Gọi HS trình bày

GV nhận xét, sửa chữa, bổ sung.

HS viết cá nhân

1 số HS trình bày, HS khác nhận xét.

3.Viết bài

- Viết phần mở bài, kết bài

- Viết đoạn phân tích nguyên nhân.

3. Hướng dẫn học ở nhà.

- Nắm vững cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.

- Làm hoàn chỉnh các bài tập.

- Lập dàn ý cho đề bài sau:

            Trò chơi điện tử là một món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mải chơi mà xao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó?

- Chuẩn bị cho bài luyện tập nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

****************************************

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

LUYỆN TẬP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ

A. MỤC TIÊU.

       Giúp HS:

-Ôn lại một hình thức nghị luận phổ biến trong đời sống: nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

-Biết cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

B. CHUẨN BỊ.

1. Giáo viên: Phiếu học tập, bảng phụ

2. Học sinh: Soạn bài theo hướng dẫn

C. LÊN LỚP

1. Kiểm tra bài cũ.   Thế nào là nghị luận về một về một vấn đề tư tưởng đạo lí

2. Dạy - học bài mới.

Hoạt động của thầy

Hoạt động của trò.

Nội dung cần đạt.

Hoạt động 1: HD HS ôn lại về kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.

I. Nội dung

1.Nêu yêu cầu:

-Thế nào là bài văn nghị luận về một vấn đề tư tuởng đạo lí?

-Những yêu cầu về nội dung và hình thức đối với kiểu bài này?

-Dàn bài chung của bài văn nghị luận về một vấn đề tư tuởng đạo lí?

-Các bước tiến hành làm một bài văn nghị luận về một vấn đề tư tuởng đạo lí?

*Bài làm cần lựa chọn góc độ riêng để giải thích, đánh giá, đưa ra ý kiến riêng của người viết.

1HS nhắc lại:

1.Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống là bàn về một vấn đề tư tuởng, đạo đức, lối sống... của con người.

2.Những yêu cầu :

-Về nội dung: phải làm sáng tỏ các v/đề tư tưởng đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích ... để chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó nhằm khẳng định tư tưởng của người viết.

-Về hình thức: Bài viết phải có bố cục ba phần; có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ, lời văn chính xác, sinh động.

3.Dàn bài chung:

-Mở bài: Giới thiệu vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận.

-Thân bài:

+Giải thích, c/minh nội dung v/đề tư tưởng đạo lí.

+Nhận định, đánh giá vấn đề tư tưởng đạo lí đó trong bối cảnh của cuộc sống riêng, chung.

-Kết bài: Kết luận, tổng kết, nêu nhận thức mới, tỏ ý khuyên bảo hoặc hành động.

Hoạt động 2: HD HS luyện tập.

II.Luyện tập

2.Cho HS làm một số BTTN

HS đọc BT, suy nghĩ trả lời.

1. Trắc nghiệm.

1.Trong các đề bài sau, đề nào thuộc đề nghị luận về một vấn đề tư tuởng đạo lí?

A. Suy nghĩ về một tấm gương học sinh nghèo vượt khó.

B. Suy nghĩ của em về câu ca dao "Nhiễu điều....thương nhau cùng”

C. Suy nghĩ của em về những con người không chịu thua số phận

D. Suy nghĩ của em về ''bệnh ngôi sao'' của một số nhân vật nổi tiếng hiện nay.

2.Sự khác nhau chủ yếu giữa bài văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tuởng đạo lí là gì?

A. Về nội dung nghị luận                        C. Về cấu trúc của bài viết

    B. Về sự vận dụng thao tác.                     D. Về ngôn ngữ diễn đạt.

3.Nêu yêu cầu: Hãy lập dàn bài cho đề bài sau?

*Gọi HS trình bày.

*GV chốt lại dàn bài:

HS lập dàn bài theo nhóm tổ. Đại diện trình bày, nhóm khác bổ sung.

2. Lập dàn bài .

Đề 1. Suy nghĩ của em về đạo lí  “Uống nước nhớ nguồn”

a. Mở bài

 -Tục ngữ là túi khôn của dân gian chứa đựng nhiều kinh nghiệm quý báu.

- Câu tục ngữ nêu lên một đạo lí làm người, đạo lí của toàn XH: Uống nước nhớ nguồn

b. Thân bài

* Giải thích câu tục ngữ

- ''Uống nước'': là hưởng thụ thành quả, sản phẩm vật chất và tinh thần .

- ''Nguồn'' là nguồn cội, nguồn gốc của tất cả những thành quả mà con người được hưởng, bao gồm con người, lịch sử, truyền thống.

- ''Nhớ nguồn'' : người hưởng thụ thành quả, sản phẩm vật chất và tinh thần phải biết tri ân, gìn giữ và phát huy các thành quả của người làm ra chúng.

* Nhận định, đánh giá:

- Câu tục ngữ nêu đạo lí làm người, là lời dạy, lời khuyên đối với mọi người bởi cuộc đời tuy có nhiều người tốt nhưng cũng không ít kẻ vô ơn.

- Nêu truyền thống tốt đẹp của dân tộc:

+ Không quên tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người đã sinh thành , nuôi dưỡng chúng ta khôn lớn, trưởng thành

+ Không quên công ơn các thầy cô, người đã nâng đỡ, dìu dắt ta từng bước trưởng  thành, trang bị kiến thức cho ta vững bước vào đời.

+Không quên công ơn các anh hừng liệt sĩ đã hi sinh xương máu để bảo vệ độc lập dân tộc, cho chúng ta được hưởng cuộc sống hoà bình, ấm no hạnh phúc ngày nay.

- Nêu một nền tảng tự duy trì và phát triển xã hội:

          Một đất nước , xã hội, gia đình mà giữ được truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” là một đất nước, xã hội, gia đình ttót đẹp, bền vững. Người mà biết “Uống nước nhớ nguồn” là người có đạo đức, lối sống tốt đẹp.

- Câu tục ngữ khích lệ mọi người cống hiến cho xã hội, dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn” không chỉ là lòng biết ơn , biết gìn giữ, bảo vệ thành quả đã có mà phải cố gắng cống hiến để người đời sau được hưởng thêm thành quả mới. Có như vậy xã hội mới phồn vinh.

c. Kết bài.

        Câu tục ngữ thể hiện một nét đẹp của truyền thống và con người Việt Nam. Mỗi con người hãy sống và làm việc theo truyền thống tốt đẹp đó.

3.Chia nhóm cho HS viết bài (mỗi nhóm một phần):

-Nhóm 1: Viết phần MB.

-Nhóm 2: Viết đoạn giải thích nội dung câu tục ngữ

-Nhóm 3: Viết đoạn nhận định, đánh giá câu tục ngữ

-Nhóm 4.Viết phần KB.

-Viết bài cá nhân theo nh/vụ của nhóm.

3.Viết bài.

4.GV gọi HS đọc bài . Cho HS nhận xét.

GV nhận xét, bổ sung, đọc bài tham khảo.

-1số HS trình bày.HS khác n/ xét, bổ sung.

4.Đọc lại và sửa chữa:

* Bài tập vận dụng

    Quanh em có một số bạn lơ là trong học tập, em hóy viết một bài văn nghị luận để khuyên các bạn

Dàn ý

A.Mở bài

- Nêu khái quát về hiện tượng các bạn lơ là trong học tập.

B. Thõn bài

- Nguyờn nhõn :

+ Bên ngoài tác động vào : các trũ chơi điện tử , những văn hóa phẩm không tốt , hay lúc nào cũng gắn với cái máy tính đó tiờu tốn rất nhiều thời gian cho việc học .

+ Hoặc do gia đỡnh vất vả bạn vừa đi học vừa pải phụ giúp ba mẹ đi làm nên bạn không có thời gian để học

+ Từ nhỏ có nhiều bạn sống trong gia đỡnh giàu, khá giả nên mọi thứ đều đầy đủ  nờn sinh ra lười biếng, bố mẹ lại hay đi làm suốt nên khụng ai nhắc nhở về việc học . Chớnh vỡ vậy đó gõy nờn 1 tật xấu lơ là việc học

- Nêu về mục đích việc học

+ Việc học giỳp ta cú thờm vốn kiến thức , vốn hiểu biết sõu sắc

+ Học giỳp ta mở mang con mắt , làm ta hiểu rừ thờm về thế giới ta đang sống
- Nêu dẫn chứng

+ Nếu không có sử sao ta hiểu hết được về những điều hào hùng những vị anh hùng của đất nước đó sẵn sàng ngó xuống vỡ độc lập tự do của nước nhà.

+ Nếu khụng cú mụn Sinh sao ta hiểu thờm về tự nhiờn, làm sao ta có thể biết để có được những loài cõy này chỳng cũng phải trải qua một quỏ trỡnh tiến húa lõu dài ...

+ Học là việc cần thiết và quan trọng cần được đặt lên hàng đầu. Nú giỳp 1 xó hội tiến xa hơn , giúp 1 đất nước lạc hậu thành 1 đất nước phát triển. Đưa con người lên 1 thời kỡ mới .

+ Những vị anh hùng đó cú cụng bảo vệ đất nước trog thời chiến . Và giờ đây trong thời bỡnh chỳng ta những con dõn đó được sống được phát triển phải biết dựa trên cái nền tảng đó để đưa đất nước lên tầm cao mới sánh ngang với các cường quốc năm châu trên thế giới này .

+ Học cho cuộc sống của ta thờm mới mẻ .

- Tác hại của việc không học, lười học

+ Hóy tưởng tượng gần hơn nếu bạn lười học: bạn sẽ khó lũng làm được 1 bài dự là dễ nhất, bạn sẽ phải đối mặt với những ánh mắt của bạn bố . Họ thất vọng nhiều về bạn, bạn sẽ thấy mỡnh chỡm trong mặc cảm và xấu hổ bạn sẽ khụng cũn như trước nữa . Sẽ có 1 bức tường ngăn cách , bức tường dày cao đó sẽ đưa bạn vào bóng tối . Bố mẹ bạn sẽ cảm thấy sao về con mỡnh . Chẳng lẽ bạn muốn nhỡn vẻ u sầu đôi mắt thâm quầng vỡ phiền nóo của bố mẹ bạn ư ? Bạn nhẫn tâm vậy sao ?

+ Hay xa hơn: Nếu chúng ta không học con người sẽ quay lại thời kỡ trước sẽ lạc hậu trở lại về quỏ khứ, ta sẽ tụt hậu ….

- Lời khyờn: Hóy đứng dậy , hỡi người hùng dũng cảm của hôm nay vứt bỏ quá khứ và làm lại. Bạn sẽ làm được nếu bạn cố gắng thật sự cố gắng. Bạn sẽ được mọi người yêu quý bởi bạn cú cố gắng . Người ta không nhỡn vào thành tớch mà phải xem về mặt quyết tõm cố gắng của bạn.  Bạn có mọi người, bạn có tất cả và bạn có thể chiếm lĩnh thế giới nếu như bạn học hành thật chăm chỉ. Bạn có thể đưa tất cả đi lên không?...
C. Kết bài !

Khái quát lại vấn đề, gửi lời nhắn nhủ, lời quyết tõm với bạn bố cựng tiến bộ.

Hướng dẫn học ở nhà

- Ôn lại để nắm vững cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

- Viết các dàn bài thành bài văn hoàn chỉnh.

*************************************************

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

                ÔN TẬP :    MÙA XUÂN NHO NHỎ                                        

                                                                             Thanh Hải

I. Tác giả : Thanh Hải (1930 -1980), tờn khai sinh là Phạm Bỏ Ngoón, quê ở Thừa Thiên Huế

- Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Thanh Hải làm công tác văn nghệ ở địa phương. Những năm chống Mĩ xâm lược, nhà thơ tiếp tục làm công tác văn hóa – tuyên huấn ở chiến khu. Sau năm 1975, Thanh Hải là tổng thư kí hội văn nghệ Bỡnh – Trị - Thiờn và là ủy viên thường vụ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông mất năm 1980 tại Huế.

- Thơ ông chân thật, bỡnh dị , đôn hậu và chân thành

- Tác phẩm đó xuất bản: Những đồng chí trung kiên (1962); Huế mùa xuân ( tập 1 – 1970, tập 2 – 1975); Dấu vừng Trường Sơn(1977); Mưa xuân đất này(1982); Thanh Hải thơ tuyển (1982)

- Ông được nhận giải thưởng Nguyễn Đỡnh Chiểu năm 1965

II. Bài thơ: sáng tác năm 1980 khi tác giả đang nằm trên gi­ường bệnh và chẳng bao lâu tác giả qua đời: 30 – 12 - 1980.

- Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cả n­ớc đang sôi sục không khí chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và không khí lao động xây dựng CNXH; thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất n­ước và ­ước nguyện chân thành của tác giả.

III.  Gợi ý phõn tớch:

* Mựa xuõn của thiờn nhiên qua tâm tưởng của nhà thơ ( 6 câu thơ đầu)

- Trờn dũng sụng xanh của quờ hương mọc lên “một bông hoa tím biếc” . Động từ “ mọc” được đảo trật tự lên đầu câu gợi tả sự ngạc nhiên, vui thú, một niềm vui hân hoan đón chào tín hiệu mùa xuân: “ mọc giữa dũng …..Một bụng hoa …” “Bụng hoa tớm biếc” ấy chỉ cú thể là hoa lục bỡnh, hay hoa sung chăng mà ta thường gặp trên sông nước làng quê?

- Màu xanh của nước hũa hợp với màu tớm biếc của hoa gợi một vẻ đẹp bỡnh dị than quen. Chỉ vài nột chấm phỏ mà đằm thắm Thanh Hải đó tạo nờn bức tranh xuõn hài hũa màu sắc, hỡnh ảnh thơ đẹp, sống động.

- Ngẩng mặt nhỡn bầu trời, nhà thơ vui sướng lắng tai nghe chim chiền chiền hót lảnh lót “hót vang trời” . Từ “ ơi” cảm thán biểu lộ niềm vui ngây ngất, say sưa: “ Ơi con chim chiền chiện/ Hót chi mà …” Hai tiếng “ hót chi” là giọng điệu thân thương của người dân xứ Huế được tác giả đưa vào diễn tả cảm xúc thiết tha giữa người và cảnh. Chim chiền chiện hót gọi xuân về. Tiếng chim ngân vâng, rung động đất trời đem đến bao niềm vui.

- Ngắm dũng sụng, nhỡn bụng hoa đẹp, nghe chim hót, nhà thơ bồi hồi sung sướng: “ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay …” Không gian dường như ngưng đọng lại. Nhà thơ đó lựa chọn từ ngữ thật tài tỡnh: “ hứng” là một cử chỉ bỡnh dị, trõn trọng, thể hiện cảm xỳc sõu xa. Cũn “ giọt long lanh” là một liờn tưởng đầy chất thơ. Là giọt sương mai, hay giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện? Sự chuyển đổi cảm giác đó tạo nờn hỡnh khối thẩm mĩ của õm thanh.

=> Túm lại chỉ bằng ba nột vẽ: dũng song xanh, bụng hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót … Thanh Hải đó vẻ nờn một bức tranh xuõn tươi đẹp và đáng yêu vô cùng. Đó là vẻ đẹp và sức sống mặn mà của đất trời vào xuân.

* Mùa xuân của đất nước qua tâm tưởng nhà thơ ( khổ 2,3)

- Cấu trúc thơ song hành để chỉ rừ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc: “ Mùa xuân người cầm súng …………Lộc trải …….” “ lộc” là chồi non, cành biếc mơn mởn. “ lộc” trong văn cảnh này tượng trưng cho vẻ đẹp của mùa xuân và sức sống mónh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc, mang theo sức sống mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ tổ quốc. Người nông dân đem mồ hôi và sức lao động cần cù làm nên màu xanh cho ruộng đồng: “ trải dài nương mạ” bát ngát quê hương. í thơ vô cùng sâu sắc: Máu và hoa của nhân dân đó gúp phần tụ điểm mùa xuân và để giữ lấy mùa xuân mói mói.

- Cả dân tộc bước vào mùa xuân với khí thế trẩn trương, náo nhiệt: “ Tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn xao …” “ hối hả” nghĩa là vội vàng, gấp gáp, khẩn trương. “ xôn xao” là có nhiều âm thanh xen lẫn vào nhau, làm cho náo động. Việc vận dụng từ láy linh hoạt vừa có sức gợi hỡnh, gợi cảm, vừa làm cho lời thơ vang  lên nhịp điệu vui tươi, mạnh mẽ khác thường. Đó là hành khúc mùa xuân của thời đại Hồ Chí Minh.

- Bốn câu thơ tiếp theo ở khổ ba bộc lộ niềm suy tư của tác giả về đất nước, về nhân dân: “ Đất nước bốn nghỡn năm ….Cứ đi lên ….” Chặng đường lịch sử của đất nước với bốn ngàn năm trường tồn, lúc suy vong, lúc hưng thịnh với bao thử thách: “ Vất vả và gian lao”. Thời gian đằng đẵng ấy nhân dân ta từ thế hệ này sang thế hệ khác đó đem mồ hôi xương máu, lũng yờu nước cũng như tinh thần quả cảm để xây dựng và bảo vệ đất nước. Câu thơ “ Đất nước như vỡ sao” là một hỡnh ảnh so sỏnh đẹp và mang ý nghĩa. Sao là nguồn sỏng lấp lỏnh, là vẻ đẹp vĩnh hằng trong không gian và thời gian. So sánh đất nước với vỡ sao là biểu lộ niềm tự hào đối với đất nước Việt Nam anh hùng, giàu đẹp. Hành trang đi tới tương lai của dân tộc ta không một thế lực nào có thể ngăn cản được: “ Cứ đi lên…” Ba tiếng “ Cứ đi lên” thể hiện sự quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh.

- Sau lời suy tư là đều tâm niệm của nhà thơ: “ Ta là con chim hót … Một nốt trầm …” Nhà thơ muốn hóa thân vào những gỡ gần gũi nhất để dâng hiến cuộc đời mỡnh cho cuộc đời chung:  muốn làm “con chim hót” để gọi xuân về, đem đến niềm vui cho con người. Làm “ một cành hoa” để góp vào muôn nghỡn hương sắc tô điểm cho cuộc sống, làm đẹp thiên nhiên, sông núi. Làm “ một nốt trầm” trong bản hũa ca bất tận để làm xao xuyến lũng người.

- Với Thanh Hải hóa thân là để dâng hiến, để phục vụ cho một mục đích cao cả: “ Một mùa xuân …….Dù là ……” Lời thơ tâm tỡnh, thiết tha. Mỗi con người hóy trở thành “ Một mựa xuõn nho nhỏ” để làm nên mùa xuân bất tận của đất nước. Ai cũng phải có ích cho đời. “ Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sang tạo khắc sâu ý tượng: “ Mỗi cuộc đời đó húa nỳi sụng ta” (Nguyễn Khoa Điềm). “ nho nhỏ” và “ lặng lẽ” là cách nói khiêm tốn, chân thành; “ dâng cho đời” là lẽ sống đẹp, cao cả. . Bởi “ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mỡnh” ( Tố Hữu) Sống hết mỡnh, thủy chung cho đất nước, đem cả cuộc đời mỡnh phục vụ đất nước, cả từ lúc tuổi hai mươi căng tràn sức sống hay khi tóc đó điểm bạc. Thanh Hải đó sống như lời thơ ông tâm tỡnh.

( Liờn hệ cuộc đời hoạt động cách mạng của Thanh Hải và hoàn cảnh sáng tác bài thơ để thấy rừ ý thơ vừa phân tích trên.)

- Thanh Hải sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ rất tài tỡnh: “ Ta làm … ta làm … ta nhập”, “ dự là tuổi … dự là khi…” đó làm cho õm điệu thơ, giọng thơ thêm tha thiết, sâu lắng, ý thơ được khắc sâu và nhấn mạnh. Người đọc xúc động biết bao trước một giọng thơ trữ tỡnh, ấm ỏp tỡnh đời như vậy . Bởi lời thơ ấy cũng chính là “ tiếng hót” cuối cùng Thanh Hải cất lên gửi trọn tâm tỡnh với non sụng, đất nước.

* Tiếng hát yêu thương ngợi ca quê hương ( khổ cuối )

“ Nam Ai” và “ Nam Bỡnh” là hai điệu dân ca Huế rất nởi tiếng mấy trăm năm nay. “ Phách Tiền” là một loại nhạc cụ dân tộc để điểm nhịp cho lời ca. Câu thơ “ Mùa xuân ta xin hát” diễn tả niềm xúc động bồi hồi của nhà thơ đối với quê hương yêu dấu buổi xuân về.

IV. Bài tập vận dụng:

Bài tập 1. Trong bài thơ có những hỡnh ảnh mựa xuõn nào ? Phõn tớch quan hệ giữa cỏc hỡnh ảnh mựa xuõn ấy.

         - Cú 3 hỡnh ảnh mựa xuõn trong bài thơ : mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân nhỏ của mỗi người. Từ cảm hứng về mùa xuân thiên nhiên à cảm nghĩ về mùa xuân đất nước. Từ mùa xuân lớn của thiên nhiên đất nước mà liên tưởng đến mùa xuân của mỗi người – mỗi cuộc đời – một mùa xuân nho nhỏ góp vào mựa xuõn lớn.

         - Như vậy hỡnh ảnh mựa xuõn trước chuẩn bị và gợi ra những hỡnh ảnh mựa xuõn tiếp theo. Trong hỡnh ảnh mựa xuõn đất nước cũng có hỡnh ảnh mựa xuõn thiờn nhiờn. Hỡnh ảnh mựa xuõn nho nhỏ của mỗi người cũng được thể hiện bằng những chi tiết đó được hiện ra trong hỡnh ảnh mựa xuõn thiờn nhiờn nhưng có sự biến đổi.

Bài tập 2. Trong phần đầu bài thơ, tác giả dùng đại từ “tôI” sang phần sau lại dùng đại từ “ta”. Em hiểu như thế nào về sự chuyển đổi đại từ nhân xưng ấy của chủ thể trữ tỡnh.

         - Giữa hai phần của bài thơ có sự chuyển đổi đại từ nhân xưng của chủ thể trữ tỡnh từ “tụi” sang “ta”. Điều này không phải hoàn toàn là ngẫu nhiên mà đó được tác giả sử dụng như một dụng ý nghệ thuật thớch hợp với sự chuyển biến của cảm xỳc và tư tưởng trong bài thơ. Chữ “tôi” trong câu “tôi đưa tay tôi hứng” ở khổ thơ đầu vừa thể hiện một cái “tôi” cụ thể rất riêng của nhà thơ, vừa thể hiện được sự nâng niu, trân trọng với vẻ đẹp và sự sống của mùa xuân. Nếu thay bằng chữ “ta” thỡ hoàn toàn khụng thớch hợp với nội dung cảm xúc ấy mà chỉ vẽ ra một tư thế có vẻ phô trương.

         - Cũn trong phần sau, khi bầy tỏ điều tâm niệm tha thiết như một khát vọng được dâng hiến những giá trị tinh tuý của đời mỡnh cho cuộc đời chung thỡ đại từ “ta” lại tạo được sắc thái trang trọng, thiêng liêng của một lời nguyện ước.

         - Hơn nữa, điều tâm nguyện ấy không chỉ của riêng nhà thơ, cái “tôi” của tác giả đó núi thay cho nhiều cỏi “tụi” khỏc, nú nhất thiết phải hoỏ thõn thành cỏi “ta”. Nhưng “ta” mà không hề chung chung vô hỡnh, mà vẫn nhận ra được một giọng nhỏ nhẹ, khiêm nhường, đằm thắm của cái “tôi” Thanh Hải.

Hướng dẫn học ở nhà

- Ôn lại để nắm vững các kiến thức cơ bản

- Làm hoàn thành cỏc bài tập trờn

- Ôn tập bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương

************************************************************

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

                ÔN TẬP :  VIẾNG LĂNG BÁC

                                                                                (Viễn Phương)

I. Tác giả : Viễn Phương, sinh năm 1928, tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê ở An Giang.

- Là một cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì k/c chống Mĩ cứu nước.

-Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm và chất mơ mộng ngay trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt ở chiến trường.

II. Tác phẩm

- Sáng tác năm 1976, khi tác giả ra thăm lăng Bác vào dịp khánh thành lăng

- In trong tập ''Như mây mùa xuân'', 1978

III.  Gợi ý phõn tớch:

1. Cảm xúc khi ở ngoài lăng Bác ( 2 khổ đầu)

- Câu thơ mở đầu: “ Con ở …” như một lời nói nghẹn ngào của đứa con đi xa trở về thăm viếng hương hồn Bác Hồ kính yêu. Tỡnh cảm ấy là tỡnh cảm chung của đồng bào  chiến sĩ miền Nam đối với vị lónh tụ vĩ đại của dân tộc.

- Nhà thơ đứng lặng đi, trầm ngâm từ phía xa nhỡn lăng Bác. Hỡnh ảnh hàng tre quanh lăng Bác gợi cho Viễn Phương nhiều cảm xúc và liên tưởng thấm thía. Màu tre xanh thân thuộc của làng quê Việt Nam luôn luôn gắn bó với tâm hồn Bác. Bác đó “đi xa” nhưng tâm hồn Bác vẫn gắn bó thiết tha với quê hương xứ sở: “ Ôi hàng tre …Bóo tỏp …” Cõy tre, “ hàng tre xanh xanh….đứng thẳng hàng” ẩn hiện thấp thoáng trước lăng Bác. Cây tre đó được nhân hóa như biểu tượng ca ngợi dáng đứng của con người Việt Nam: kiên cường, bất khuất, mộc mạc, thanh cao. Hỡnh ảnh cõy tre trong lời thơ của Viễn Phương biểu thị niềm tự hào dân tộc làm cho mỗi chúng ta cảm nhận sâu sắc về phẩm chất cao quý của Bỏc Hồ cũng như của con người Việt Nam trong bốn ngàn năm lịch sử.

- Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, có nhiều bài thơ nói đến hỡnh ảnh mặt trời (Liờn hệ, mở rộng………)

Viễn Phương có một lối nói rất hay và sáng tạo đem đến cho ta nhiều liên tưởng thú vị: “ Ngày ngày mặt trời ……..” Hai câu thơ sóng đôi, hô ứng nhau. Một mặt trời thiên nhiên rực rỡ, vĩnh hằng” ngày ngày đi qua trên lăng” và “ một mặt trời trong lăng rất đỏ” là hỡnh ảnh ẩn dụ tượng trưng cho đạo đức, lũng yờu nước, tinh thần cách mạng sáng ngời của Bác.

- Hũa nhập vào dũng người đến thăm lăng Bác, nhà thơ xúc động bồi hồi: “ Ngày ngày dũng người đi trong thương nhớ - Kết tràng hoa …” Viễn Phương đó vớ dũng người vô tận đến viếng lăng Bác như “ Kết tràng hoa …” Mỗi người Việt Nam đến viếng Bác với tất cả tấm lũng thành kớnh và biết ơn vô hạn. Ai cũng muốn đem đến dâng lên người những thành tích tốt đẹp, những bông hoa thắm tươi nảy nở trong sản xuất, chiến đấu và học tập. Hương hoa của hồn người, hương hoa của dân tộc kính dâng lên người. Cách nói của Viễn Phương rất hay và xúc động: Lũng tiếc thương, kính yêu Bác gắn liền với niềm tự hào của nhân dân ta – nhớ Bác và làm theo di chúc của Bác.

2. Cảm xúc khi ở trong lăng Bác ( khổ 3)

- Vào trong lăng Bác, cảm giác của nhà thơ là: “ Bác nằm trong …” Khi đứng trước linh cửu của Người mà nhỡn ngắm Bỏc, nhà thơ xúc động bùi ngùi, tưởng như Bác vẫn cũn đó. Bác đang ngủ một “ giấc ngủ bỡnh yờn” sau một ngày làm việc, giấc ngủ của Bỏc cú ỏnh trăng vỗ về. Sinh thời Bác rất yêu trăng, gần gũi trăng, xem trăng như bạn tri âm, tri kỉ. Và trong giấc ngủ vĩnh hằng Người vẫn có ánh trăng làm bạn.

- Dẫu biết rằng Bỏc vẫn cũn sống mói cựng non sụng đất nước, cùng muôn vạn cháu con, nhưng khi đứng đối diện với sự thật – Bác đó mói mói đi vào cừi vĩnh hằng, tấm lũng nhà thơ thổn thức, quặn đau: “  Vẫn biết trời xanh là mói mói- Mà sao …….” Một nỗi đau nhức nhối tận tâm can! Nỗi đau của nhà thơ cũng là nỗi đau chung của cả dân tộc: “ Bác Hồ ơi những xế chiều,

         Nghỡn thu nhớ Bỏc biết bao nhiờu!” ( Bác ơi – Tố Hữu)

3. Cảm xúc khi rời xa lăng Bác (khổ cuối)

Khổ thơ cuối nói lên cảm xúc của nhà thơ khi ra về. Biết bao lưu luyến, buồn thương. Nhà thơ muốn hóa thân làm “ con chim”, làm “ đóa hoa tỏa hương”, làm “ cõy tre trung hiếu” để được đền ơn đáp nghĩa Người. í thơ sâu lắng, hỡnh ảnh thơ đẹp và độc đáo, cách biểu hiện cảm xúc “ rất Nam Bộ” : “ Mai về miền Nam ..........Muốn làm cây tre ..........” Điệp ngữ “ muốn làm” được láy lại ba lần nói lên ước mong tha thiết được hóa thân để gần gũi bên Bác. Ước muốn khiêm tốn nhưng thể hiện trách nhiệm của người công dân: “ trung với nước, hiếu với dân” đó trở thành lẽ sống, là tõm huyết của nhà thơ.

* Nghệ thuật:

- Hỡnh ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp cả nỡnh ảnh thực, hỡnh ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Đặc sắc nhất là những hỡnh ảnh ẩn dụ – biểu tượng (trời xanh, vầng trăng) vừa quen thuộc, gần gũi với hỡnh ảnh thực, lại vừa sõu sắc cú ý nghĩa khỏi quỏt và giỏ trị biểu cảm.

- Giọng điệu thơ trang trọng, tha thiết phù hợp với tâm trạng và cảm xúc.

- Lời thơ dung dị  mà cô đúc, giàu cảm xúc mà lắng đọng.

IV. Bài tập vận dụng:

Bài tập 1: Cho khổ thơ:

“…Mai về miền Nam thương trào nước mắt

      Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

   Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây

          Muốn làm cõy tre trung hiếu chốn này…”.

          a. Chỉ ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ trên? Nờu tỏc dụng của biện phỏp nghệ thuật ấy.

          b. Hỡnh ảnh hàng tre bờn lăng Bác đó được nhà thơ miêu tả trong khổ thơ đầu của văn bản. Việc tác giả nhắc lại chi tiết cây tre trong câu thơ cuối bài có ý nghĩa gỡ?

* Gợi ý:

a.  Biện pháp nghệ thuật được sử dụng: Điệp ngữ “Muốn làm” và liệt kê những cảnh vật bên lăng mà tác giả muốn hoá thân, muốn hoà nhập như “con chim”, “đoá hoa”, “cõy tre trung hiếu” để diễn tả tâm trạng lưu luyến muốn được ở mói bờn lăng Bác. Đặc biệt, tác giả muốn làm “cõy tre trung hiếu”, nghĩa là muốn sống đẹp, trung thành với lí tưởng của Bác, của dân tộc.

b.  Hỡnh ảnh hàng tre bờn lăng Bác ở đầu bài thơ được lặp lại ở câu cuối bài có kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hỡnh ảnh hàng tre, gõy ấn tượng sâu sắc và dũng cảm xỳc được trọn vẹn.

Bài tập 2:  Cho hai câu thơ sau:

                     “…Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

                         Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ…”

                                                                     (Viếng lăng Bác – Viễn Phương)

Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo phương thức nào? Có thể coi đây là hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghĩa được không? Vỡ sao?

* Gợi ý:

- Kĩ năng:

+   Trỡnh bày được các ý theo yờu cầu của đề. Nhận biết được phương thức ẩn dụ tu từ .

+   Diễn đạt, lập luận rừ ràng, đúng, chính xác.

+  Khụng mắc lỗi chớnh tả, dựng từ, ngữ phỏp.

-  Nội dung:

Học sinh diễn đạt, lập luận theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo phép ẩn dụ tu từ. Nhà thơ gọi Bác Hồ là mặt trời dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng được hỡnh thành theo cảm nhận của nhà thơ. Đây không phải là hiện tượng phát triển nghĩa của từ – không phải là phương thức ẩn dụ. Bởi vỡ sự chuyển nghĩa của từ “mặt trời” trong câu thơ chỉ có tính chất lâm thời, nó không làm cho từ có thêm nghĩa mới, và không thể đưa vào để giải thích trong từ điển.

Bài tập 3:

a. Chép chính xác bốn câu đầu bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.

b. Viết đoạn văn khoảng 8 cõu phõn tớch hỡnh ảnh hàng tre trong khổ thơ trên, trong đoạn có câu văn dùng phần phụ chú (gạch chân phần phụ chú đó).

*Gợi ý:

a. Bốn câu thơ được chép như sau:

“…Con ở miền Nam ra thăm Bác

                   Đó thấy trong sương hàng tre bát ngát

             ễI! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

               Bóo tỏp mưa sa đứng thẳng hàng...”

b. Đoạn văn có các ý:

- “Hàng tre bỏt ngỏt” trong sương là hỡnh ảnh thực, hết sức thõn thuộc của làng quờ – hàng tre bờn lăng Bác.

- “Hàng tre xanh xanh Việt Nam…” là ẩn dụ, biểu tượng của dân tộc với sức sống bền bỉ, kiên cường.

Hỡnh ảnh ẩn dụ cũng gợi liờn tưởng đến hỡnh ảnh cả dõn tộc bờn Bỏc: đoàn kết, kiên cường thực hiện lí tưởng của Bác, của dân tộc.

Hướng dẫn học ở nhà

- Ôn lại để nắm vững các kiến thức cơ bản

- Làm hoàn thành cỏc bài tập trờn

- Ôn tập bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh

*******************************************************

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

 LUYỆN TẬP LÀM BÀI NGHỊ LUẬN

VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH).

A. MỤC TIÊU

            Giúp học sinh:

 - Củng cố tri thức về yêu cầu, về cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) đã học ở các tiết trước.

 - Qua hoạt động luyện tập cụ thể mà nắm vững thành thạo thêm kỹ năng tìm ý, lập dàn ý, kỹ năng viết bài nghị luận tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).

B. CHUẨN BỊ

1. Giáo viên: Phiếu học tập, bảng phụ

2.Học sinh: Soạn bài theo hướng dẫn

C. LÊN LỚP.

1. Kiểm tra bài cũ:

-Thế nào là nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích?

-Những yêu cầu đối với kiểu bài này?

-Dàn bài chung của kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích?

2. Dạy - Học bài mới 

Hoạt động của thầy

Hoạt động của trò

Nội dung cần đạt

Hoạt động 1: HD HS tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài cho đề bài

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích ''Chiếc lư­ợc ngà'' của Nguyễn Quang Sáng

1.Gọi HS đọc yêu cầu đề bài. Nêu yêu cầu:

-Theo em, vấn đề cần nghị luận trong đoạn trích  này là gì?

-Nét nổi bật của đoạn trích này là gì?

- Tình cảm cha con đ­ược thể hiện qua những tình huống tiêu biểu nào?

- Phân tích các chi tiết đặc sắc về cử chỉ, hành động, lời nói cụ thể của tình cha con trong từng nhân vật?

-Hãy nêu những nhận xét cơ bản của em về hai nhân vật: ông Sáu và bé Thu?

-Đọc yêu cầu đề bài.

-Suy nghĩ, nhận xét, trả lời theo sự chuẩn  bị ở nhà

1. Tìm hiểu đề, tìm ý

-Vấn đề NL: Cảm nhận về truyện ngắn ''Chiếc lược ngà'' của Nguyễn Quang Sáng.

- Nét nổi bật: Tình cha con sâu sắc của hai cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

- Tình huống:

+ Ông Sáu xa nhà đi k/c, sau 8 năm xa cách trở về, bé Thu không chịu nhận ông Sáu là cha. Đến lúc bé Thu nhận ra cha và bộc lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu phải ra đi. 

+Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương mong nhớ đứa con vào làm cây lược ngà tặng con  nhưng chưa kịp trao cây lược cho con thì đã bị hi sinh.

- Nhận xét, đánh giá

+ Ông Sáu: là người cha hết mực yêu th­ương con.

+ Bé Thu: là cô bé có cá tính, có nghị lực và có tình yêu thương cha sâu sắc.->Tình cha con là 1 thứ tình cảm thiêng liêng, 1 nét đẹp văn hoá trong đời sống tinh thần của người VN, trong tác phẩm, tác giả đã tô

- Nhận xét về những nét nghệ thuật tiêu biểu của truyện?

đậm và ngợi ca tình phụ tử như 1 lẽ sống, vì nó con người có thể bình thản hi sinh cho lí tưởng

* Đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật của tác giả.

+ Cốt truyện chặt chẽ, có những tình huống bất ngờ

+ Người kể ở ngôi thứ nhất vừa là nhân chứng vừa là người tham gia vào một số sự việc của câu chuyện

+ Ngôn ngữ giản dị, mang đậm màu sắc Nam Bộ.

2.Trên cơ sở các ý đã tìm đựơc, em hãy lập dàn bài cho bài văn?

Cho HS tham khảo dàn bài

-Xây dựng dàn bài theo nhóm bàn, đại diện trình bày.

2. Lập dàn bài.

a. Mở bài : Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nêu ý kiến đánh giá sơ bộ.

    Truyện ngắn ''Chiếc lược ngà'' của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện cảm động tình cảm cha con sâu sắc trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

b. Thân bài. Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

*Tình huống bộc lộ tình cha con sâu sắc:

- Ông Sáu xa nhà đi k/c, sau 8 năm xa cách trở về, bé Thu không chịu nhận ông Sáu là cha. Đến lúc bé Thu nhận ra cha và bộc lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu phải ra đi. 

- Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương mong nhớ đứa con vào làm cây lược ngà tặng con  nhưng chưa kịp trao cây lược cho con thì đã bị hi sinh.

-Nhận xét, đánh giá về nhân vật:

-Ông Sáu: là người cha hết mực yêu th­ương con.

-Bé Thu: là cô bé có cá tính, có nghị lực và có tình yêu thương cha sâu sắc.

->Tình cha con là 1 thứ tình cảm thiêng liêng, 1 nét đẹp văn hoá trong đời sống tinh thần của người VN, trong tác phẩm, tác giả đã tô đậm và ngợi ca tình phụ tử như 1 lẽ sống, vì nó con người có thể bình thản hi sinh cho lí tưởng .

* Đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật của tác giả.

- Cốt truyện chặt chẽ, có những tình huống bất ngờ

- Người kể ở ngôi thứ nhất vừa là nhân chứng vừa là người tham gia vào một số sự việc của câu chuyện

- Ngôn ngữ giản dị, mang đậm màu sắc Nam Bộ.

c. Kết bài. Khẳng định vấn đề đã nghị luận.

    Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình cha con sâu nặng; khơi gợi ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời.

Hoạt động 2.Hướng dẫn HS viết bài

3. Viết bài

3.Cho HS viết bài.

Gọi HS trình bày

GV nhận xét, sửa chữa, bổ sung.

HS viết cá nhân

1 số HS trình bày, HS khác nhận xét.

-Viết phần mở bài, kết bài

-Viết đoạn nêu suy nghĩ về nhân vật bé Thu hoặc ông Sáu.

TIẾT 2.

4.Gọi HS đọc đề bài. Nêu yêu cầu:

-Đề yêu cầu vấn đề gì?

- Cái gì là nét nổi bật ở truyện ngắn “Lão Hạc”?

- Nét điển hình về người nông dân trước CMT8 thể hiện ở những khía cạnh, tình huống  nào?

- Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách cụ thể, sinh động về hoàn cảnh, tính cách, phẩm chất của nhân vật lão Hạc?

5.Dựa vào các ý tìm được, hãy lập dàn ý cho đề bài trên?

1HS đọc đề bài. Cả lớp nghe, suy nghĩ, xác định, trình bày.

Đề bài: Suy nghĩ của em về truyện ngắn "Lão Hạc'' của Nam Cao.

1.Tìm hiểu đề, tìm ý.

-Yêu cầu của đề: Suy nghĩ về truyện ngắn "Lão Hạc'' của Nam Cao.

-Tìm ý: Nét nổi bật ở truyện ngắn “Lão Hạc”là XD thành công hình tượng điển hình về người nông dân trước CM T8. Nhân vật chính: Lão Hạc.

+Hoàn cảnh: nghèo, cô đơn, già nua.

+Giàu tình thương yêu, nhân nghĩa, thuỷ chung.

+Giàu lòng tự trọng, sống trong sạch, lương thiện.

2.Lập dàn bài.

a.Mở bài: (Giới thiệu)

  Truyện ngắn “Lão Hạc” - một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân trước CMT8.

b.Thân bài. (Triển khai nhận định về truyện)

   Truyện ngắn “Lão Hạc” xây dựng thành công hình tượng điển hình  về người nông dân trước CM T8.

-Đặt nhân vật vào tình huống điển hình để bộc lộ phẩm chất cao đẹp: nghèo, cô đơn, già nua.

-Cách tạo dựng tình huống bất ngờ: Xin bả chó -> mọi người hiểu lầm ->chết dữ dội, thảm khốc -> bộc lộ phẩm chất trong sạch, lương thiện.

c.Kết bài. (Khẳng định)

   Qua việc XD thành công hình tượng nhân vật lão Hạc -> Tố cáo XHPK.

6.Cho HS viết bài.

Gọi HS trình bày

GV nhận xét, sửa chữa, bổ sung.

HS viết cá nhân

Tổ 1 viết phần MB

Tổ 2 : ý 1 phần TB

Tổ 3 : ý 2 phần TB

Tổ 4 : viết phần KB

3.Viết bài.

3. Hướng dẫn học ở nhà

  - Nắm vững cách làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.

- Chuẩn bị cho bài “sang thu”

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

                ÔN TẬP :            SANG THU

                                                                                (Hữu Thỉnh)

I. Tác giả : Hữu Thỉnh, tên thật là  Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942, quê ở Tam Dư­ơng, Vĩnh Phúc.

- Là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những ngư­ời mẹ, ngư­ời chị ở nông thôn, về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vấn v­ương đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng.

- Thơ Hữu Thỉnh dạt dào cảm xúc thấm đẫm yêu thương với giọng thơ hồn hậu, trong trẻo, gần gũi.

II. Tác phẩm

Bài thơ đư­ợc sáng tác cuối năm 1977,  in lần đầu trên báo Văn nghệ , sau đó lại in trong tập “Từ chiến hào tới thành phố”- 1991.

III.  Gợi ý phõn tớch:

* Khổ thơ 1: Cảm nhận tinh tế của tác giả trước những tín hiệu giao mùa ở không gian gần và hẹp

- Cảm nhận bằng khứu giác và xúc giác:

+ Hương ổi + cái se lạnh của gió à lan toả trong không gian nơi vườn thôn, ngừ xúm.

+ "Phả" à hương thơm như sánh lại, luồn vào trong gió.

à Gợi hỡnh dung cụ thể hương ổi chín + Gợi sự vận động nhẹ nhàng của gió đưa hương. Hữu Thỉnh không tả mà chỉ gợi tạo sự liên tưởng ( màu vàng khươm, hương thơm lừng lan tỏa, bốc lên từ những trái ổi, nồng nàn phả vào đất trời và hồn người ) “ Hương ổi ” trong bài thơ là một tứ thơ mới, đậm đà màu sắc dân dó của Hữu Thỉnh.

- Cảm nhận bằng thị giỏc:

+ "Chựng chỡnh" à NT nhân hoá: sương thu có ý chậm lại, quấn quýt bờn ngừ xúm đường làng.

- Cảm xỳc:

+ “Bỗng”: cảm giỏc bất ngờ.

+ “Hỡnh như”: cảm giác mơ hồ mong manh, chưa rừ ràng.

  à Sự giao thoa của tạo vật + cảm xúc ngỡ ngàng, xao xuyến của nhà thơ.

*  Khổ thơ 2: Cảm nhận biến chuyển của đất trời sang thu trong không gian dài, rộng, cao.

ý chuyển: không gian được Hữu Thỉnh mở rộng theo chiều cao, độ rộng bằng nhiều hỡnh ảnh giàu sức biểu cảm.

- Sự đổi thay của tạo vật:

+ NT đối: Sương chùng chỡnh >< Chim vội vó à vận động tương phản.

+ Sụng dềnh dàng – NT nhõn húa + từ lỏy gợi hỡnh, tả dũng sụng trụi chậm à gợi suy nghĩ trầm tư.

+ Chim vội vó - NT nhõn hoỏ + từ lỏy gợi cảm à hơi thu se lạnh khiến lũ chim “vội vó” bay về phương Nam tránh rét.

- Hỡnh ảnh đám mây “vắt nửa mỡnh sang thu” - NT nhõn hoỏ --> gợi hỡnh dung:

+ Mây mỏng như dải lụa treo trờn bầu trời.

+ Ranh giới nửa nghiêng về mùa hạ, nửa nghiêng về mùa thu. (Câu thơ khá hay, độc đáo, cách chọn từ, dùng từ rất sáng tạo).

è Dũng sụng, cỏnh chim, đám mây đều được nhân hóa, giàu sức gợi cảm, tạo nên bức tranh thu của Hữu Thỉnh chứa chan thi vị: Cảm xúc say sưa, tâm hồn giao cảm với thiên nhiên.

*  Khổ thơ 3: Cảm nhận thời tiết (tạo vật) sang thu bằng tâm tưởng, suy tư:

- “Vẫn cũn”, “vơi dần”, “bớt” ß từ chỉ mức độ à sự chuyển biến của các hiện tượng tự nhiên: hạ nhạt dần, thu đậm nột hơn.

à Quan sỏt tinh tế, tõm hồn nhạy cảm.

- Sấm bất ngờ, hàng cây đứng tuổi

+ Tả thực: Sang thu, sấm thưa và nhỏ dần, không đủ sức lay động hàng cây đó bao mựa thay lỏ.

+ NT nhân hoá: bất ngờ + đứng tuổi à trạng thái của con người.

+ Hỡnh ảnh ẩn dụ: Từ ngoại cảnh nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời; “ sấm ”và “ hàng cây đứng tuổi” những hỡnh ảnh ẩn dụ tạo nờn tớnh hàm nghĩa của bài “ Sang thu”.

+ Nắng, mưa, sấm là những biến dộng của thiên nhiên, cũn mang ý nghĩa tượng trưng cho những thay đổi, biến động, những khó khăn, thử thách trong cuộc đời.

 + Hỡnh ảnh hàng cõy đứng tuổi là hỡnh ảnh ẩn dụ núi về lớp người đó từng trải, được tôi luyện trong nhiều khó khăn, gian khổ.

- Bài thơ ra đời vào những năm 80 của thế kỉ trước: đất nước tuy đó độc lập, thống nhất, nhưng đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách mới về kinh tế - xó hội. Hai cõu kết mang hàm ý khẳng định bản lĩnh cứng cỏi và tốt đẹp của nhân dân ta trong những năm gian khổ, khó khăn ấy.

à Đất trời sang thu khiến lòng người cũng bâng khuâng, xúc cảm, gợi bao suy nghĩ về đời người lúc sang thu.

* Đánh giá, nhận xét về giá trị bài thơ:

Hoạt động 3: Luyện tập củng cố

Hoạt động của Thầy

Hoạt động của Trò

Nội dung cần đạt

-Tại sao tác giả không chỉ cụ thể những người trên mây, trên sóng? Điều này có tác dụng gì trong nghệ thuật biểu hiện của bài thơ?

-Đây có phải là cuộc hội thoại không? Vì sao?

-Viết đoạn văn trình bày cảm nghĩ của em về bài thơ Mây và Sóng?

Gợi ý: Em có thể phát biểu cảm nghĩ về tình mẫu tử, những bài học mà em tự rút ra từ bài thơ, hoặc nghệ thuật biểu hiện tình cảm của bài thơ.

-HS làm bài.

-Nghe gợi ý, suy nghĩ làm bài.

B. BÀI TẬP.

Bài tập 1.

-Những người trên mây, trên sóng là sự tưởng tượng của em bé. Họ không xuất hiện chính là để người đọc tuỳ theo sự hiểu biết của mình mà tưởng tượng. Mặt khác, đây chỉ là cái cớ để em bé thổ lộ tâm tình với mẹ. Nhờ những câu chuyện tưởng tượng đó, tình cảm của em bé đối với mẹ được bộc lộ một cách trọn vẹn.

-Mặc dù trong bài thơ chứa những lời đối thoại nhưng đây chỉ là lời lể của em bé về những sự việc mà em đã trải qua để biểu lộ tình cảm của mình đối với mẹ=>không phải là cuộc hội thoại.

-Đoạn văn:

-Đọc câu chuyện sau đây và trả lời câu hỏi:

-HS đọc truyện, suy nghĩ làm bài.

Bài tập 2.

Đây là trường hợp người nói không dùng hàm ý nhưng người nghe thì hiểu theo hàm ý. Do ngữ cảnh và sự suy diễn của người nghe cho là có hàm ý.

-Trong giao tiếp cần phải nói cho rõ ràng, rành mạch nội dung câu nói, phải chú ý xem câu nói của mình có làm phát sinh hàm ý không.

Trong VB trên có câu nói nào chứa hàm ý không? Vì sao em biết?

Từ những câu nói của bác sĩ Nam trong VB, hãy rút ra bài học cho mình khi giao tiếp?Bác sĩ Nam mời bạn đến dự sinh nhật ở một nhà hàng. Gần đến giờ mở sâm banh, khách đến mới chỉ có một phần. Bác sĩ đứng xoa tay than thở:

-Chán quá! Người cần đến thì chưa thấy đến.

Những người ngồi gần đó đồng lòng cho rằng anh ta ám chỉ mình thuộc loại những người không cần đến, thế là học đứng dậy lục tục ra về gần hai mươi người. Thấy vậy, anh bèn than thở với những người còn lại:

-Những người không cần đi thì lại đi mất rồi. Thế là mười người còn lại nghĩ: “Chắc mình thuộc loại người cần đi”, thế là họ bỏ đi nốt, chỉ còn một người bạn chí cốt ở lại. Người đó trách bác sĩ:

-Anh nói năng không ra làm sao cả, làm khách tức giận bỏ về hết cả rồi. Bác sĩ Nam dở cười, dở mếu thanh minh: Những lời tôi nói không ám chỉ họ. Nghe vậy, người bạn nghĩ bụng không ám chỉ họ thì ám chỉ mình. Thế là anh bạn cuối cùng này cũng đứng dậy bỏ đi nốt.

-Xác định và giải đoán các câu có hàm ý trong đoạn trích sau:

-HS xác đinh câu có chứa hàm ý, giải đoán hàm ý.

Bài tập 3.

a. Đêm trăng thanh, anh, nàng…=>đây không phải là chuyện công việc: chàng trai ngỏ lời với cô gái.

b.

Câu trả lời của Kiến:

1. Muốn đánh giá một ngày có đẹp hay không thì phải đến cuối ngày mới có thể xác định được.

2. Một ngày đẹp là một ngày lao động có năng suất, có hiệu quả, và có thể nghỉ ngơi thoải mái

a. Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng.

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

b. Châu chấu hỏi Kiến:

-Kiến ơi hãy nói giúp xem, hôm nay là một ngày tuyệt đẹp hay đáng ghét?

Kiến lau mồ hôi, ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

-Tôi sẽ trả lời câu hỏi của các bạn sau khi mặt trời lặn nhé.

Mặt trời lặn, chúng đi đến tổ kiến:

-Hôm nay là ngày thế nào hả bác Kiến đáng kính?

-Hôm nay là một ngày tuyệt đẹp! Tôi đã làm việc rất tốt và bây giờ có thể nghỉ ngơi thoải mái.

-Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi:

Đọc và trả lời

Bài tập 4.

-Mẹ con mất sớm, bố thì tàn tật không làm gì được=>không muốn con đi., phản bác quyết định của con

-Nước mất thì nhà tan…=> quyết đi, bảo vệ quyết định của mình->có hiệu quả hơn

Xác định và giải đoán các câu có hàm ý.

Những lập luận nào phản bác và bảo vệ câu: “Con đi đánh giặc đây bố ạ!” Lập luận nào có hiệu lực hơn?

Yết Kiêu: -Con phải đi đánh giặc đây, bố ạ!

Người cha: -Mẹ con mất sớm, bố thì tàn tật không làm gì được.

Yết Kiêu: -Bố ơi! Nước mất thì nhà tan

Người cha:-ấy, cha cũng nghĩ đến chuyện đó. Thôi con cứ đi.

-Vì sao câu chuyện sau đây lại gây cười?

Bài tập 5.

-Từ trước tới nay, tôi vẫn giàu hơn anh và thế giới đang ở trong tay tôi.

A. Cậu đã làm xong bài tập toán chưa?

B. Bài nào cũng vượt quá sức của tớ.

A. Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ?

B. Tớ quên đem theo đồng hồ.

A. Hôm nay, bố cậu có say rượu không?

B. Bố tớ bỏ rượu một tháng nay rồi.

Vua dầu mỏ Sa-mút nói với Binghết:

-Giá dầu leo thang như thế này chắc tôi sẽ mua được cả thế giới.

Binghết mỉm cười và gật gật: -Anh thì có thể nhưng tôi chưa hề có ý định bán nó.

Bài tập 7.

Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau của Huy Cận:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu.

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống trời lên sâu chót vót.

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

                                  Tràng giang.

Câu hát căng buồm với gió khơi.

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mặt trời đội biển nhô màu mới.

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

                                  Đoàn thuyền đánh cá

Đây là hai đoạn thơ nằm trong hai giai đoạn sáng tác của tác giả Huy Cận. Đoạn thứ nhất trích trong bài Tràng giang viết năm 1939-thời kì mà Huy Cận còn là một nhà thơ của phong trào Thơ mới, cả đoạn thơ gợi ra khung cảnh của bờ bãi sông Hồng trong một buổi chiều buồn. Thiên nhiên mở ra vô cùng vô tận: có chiều rộng, chiều cao và  chiều sâu:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót.

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Cảnh vật vắng lẻ, quạnh quẽ, hoang sơ: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu. . Hình ảnh con người chỉ hiện hữu một cách mơ hồ hầu như không có: Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. . Vì vậy, nhân vật trữ tình mang một nỗi buồn cô liêu, đơn chiếc. Cái tôi cá nhân nhỏ bé, bơ vơ trước không gian mênh mông vô tận là cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tràng giang cũng là thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Khác với đoạn thứ nhất, đoạn thứ hai nằm trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được sáng tác năm 1958, nhân chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc nước ta đang tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, những nhà thơ Mới mà cụ thể là Huy Cận đã cảm hoá và đi theo cách mạng, đem những lời thơ của mình ngợi ca công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Đoạn thơ giúp ta hình dung cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc bình minh lên thật hào sảng, khoẻ khoắn:

                                      Câu hát căng buồm với gió khơi.

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Thiên nhiên kì vĩ, tráng lệ làm nền cho hình ảnh con người:

Mặt trời đội biển nhô màu mới.

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Cảm hứng thiên nhiên, vũ trụ hoà quyện với cảm hứng ngợi ca lao động và cuộc sống mới tạo nên mạch nguồn phơi phới lạc quan, tràn đầy hi vọng hứa hẹn….Hai đoạn thơ cùng một tác giả, cùng gợi khung cảnh sông nước biển trời nhưng với cảm hứng khác nhau đã tạo nên thế giới nghệ thuật riêng độc đáo.

Bài tập 8.

Giới thiệu về nhà thơ Thanh Hải và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.

Bài tập 9.

Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế trong bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ.

   

    

Ngày soạn

Dạy

Ngày

 Điều chỉnh

Tiết

Lớp

          ÔN TẬP : NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI

                                                                                                          Lê Minh Khuê

A. Mục tiêu cần đạt:

 1. Kiến thức: Củng cố, khắc sâu và nâng cao kiến thức đã được học trong giờ học chính khoá:   

- Hiểu, cảm nhận được giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản ”Những ngôi sao xa xôi” – Lê Minh Khuê

2. Kĩ năng:

- Rèn luyện kĩ năng cảm thụ và phân tích các yếu tố nghệ thuật (hình ảnh, ngôn từ, các PTBĐ, các BPNT trong bài thơ...)

3. Thái độ:

         Giáo dục tình yêu quê hương đất nước

B. Chuẩn bị.

 1. Giáo viên:

 - Nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án giờ luyện tập

2. Học sinh:

  - Chuẩn bị bài theo hướng dẫn của giáo viên

C. Tiến trình tiết dạy.

 1. Kiểm tra bài cũ

 - GV kiểm tra trong khi luyện tập.

 2. Dạy, học bài mới:

I. Tỏc giả:

          - Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá. Từ một nữ sinh Trung học phổ thông Lê Minh Khuê gia nhập đội thanh niên xung phong thời chống Mĩ cứu nước. Năm 1970 chị bắt đầu viết văn.Trong những năm chiến tranh, truyện của Lê Minh Khuê viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong (mà bản thân chị là thành viên) và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn đó gõy được sự chú ý của bạn đọc.

          - Sau năm 1975, tác phẩm của nhà văn bám sát những chuyển biến của đời sống xó hội và con người với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, tâm lí tinh tế, sắc sảo, đặc biệt là tâm lí nhân vật phụ nữ.

          Tỏc phẩm chớnh: Những Ngụi Sao Xa Xụi (1971), Cao điểm mùa hạ (truyện ngắn, 1978), Đoạn kết (truyện ngắn, 1980), Một chiều xa thành phố (truyện ngắn, 1987), Em đó khụng quờn (truyện vừa, 1990). Bi kịch nhỏ (truyện ngắn, 1993), Lờ Minh Khuờ tuyển tập (truyện ngắn, 1994), Mỏi hiờn (truyện ngắn), Trong làn giú heo may (truyện ngắn).

II. Tỏc phẩm:

          - Truyện " Những ngôi sao xa xôi" ở trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm 1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra ác liệt.

- Lờ Minh Khuờ am hiểu cặn kẽ nỗi lũng cựng với tõm lớ của những con người tuổi trẻ trên tuyến đường Trường Sơn.

- Truyện được trần thuật qua lời một nhân vật nữ Phương Định, một cô gái thanh niên xung phong trẻ nhiều mơ mộng, có tâm hồn nhạy cảm và trong sáng.

a. Nội dung:

     Truyện “Những ngôi sao xa xôi” đó làm nổi bật tõm hồn trong sỏng, mộng mơ, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó là hỡnh ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỡ khỏng chiến chống Mĩ.

b. Nghệ thuật:  

         Truyện sử dụng vai kể là nhân vật chính, có cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động, trẻ trung và đặc biệt thành công về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.

c. Chủ đề:

          Ca ngợi những cô gái thanh niên xung phong trên những nẻo đường Trường Sơn thời kỡ khỏng chiến chống Mĩ với tõm hồn trong sỏng, mơ mộng, tinh thần lạc quan, dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan. Đó là hỡnh ảnh đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỉ XX.

III. Luyện tập

Câu 1 : Giải thích nhan đề : Những ngôi sao xa xôi.

- Thoạt đầu, có vẻ như không có gỡ thật gắn bú với nội dung của truyện. Và chỉ gần đến cuối câu chuyện, hỡnh ảnh những ngôi sao mới xuất hiện trong những cảm xúc hồn nhiên, mơ mộng của Phương Định, ngôi sao trên bầu trời thành phố.

- Ánh đèn điện như những vỡ sao lung linh trong xứ sở thần thiờn của những cõu chuyện cổ tớch.

+ Biểu hiện cho cho những tõm hồn hết sức hồn nhiên, mơ mộng, lóng mạn của những cụ gỏi thành phố.

+ Biểu hiện cho những khát vọng, ước mơ trong tâm hồn thiếu nữ về một cuộc sống thanh bỡnh, ờm ả giữa những gỡ gần gũi khốc liệt của chiến tranh, khụng khớ bàng hoàng của bom đạn, tất cả như trở nên xa vời.

+ Ánh sỏng của cỏc vỡ sao thường nhỏ bé, không dễ nhận ra, không rực rỡ chói loà như mặt trời, và cũng không bàng bạc, thấm đẫm bao phủ như mặt trăng. Nhiều khi nhỡn lờn bầu trời, ta phải thật chăm chú mới phát hiện ra những ngôi sao ấy.

- Và phải chăng vẻ đẹp của các cô thanh niên xung phong ấy cũng như vậy. Và chúng lại « xa xôi », vỡ thế phải thật chăm chú mới nhỡn thấy được, mới yêu và quý trọng những vẻ đẹp như thế.

Cõu 2 : Túm tắt nội dung cốt truyện và nờu ý nghĩa của truyện ?

Túm tắt : Ba nữ thanh niên xung phong làm thành một tổ trinh sát mặt đường tại một địa điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Họ gồm có : hai cô gái rất trẻ là Định và Nho, cũn tổ trưởng là chị Thao lớn tuổi hơn một chút. Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá phải san lấp do bom địch gây ra, đánh dấu vị trí các trái bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm vỡ luụn phải đối mặt với thần chết trong mỗi lần phá bom và phải làm việc giữa ban ngày dưới bom đạn của quân thù trên một tuyến đường ác liệt. Tuy vậy, họ vẫn lạc quan yêu đời, vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng và đặc biệt họ rất gắn bó, yêu thương nhau trong tỡnh đồng đội, dù mỗi người một cá tính. Cái hang đá dưới chân cao điểm là « ngôi nhà » của họ đó lưu giữ biết bao kỉ niệm đẹp của ba cô gái mở đường trong những tháng ngày gian khổ mà anh hùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ.

í nghĩa của truyện :Làm nổi bật tâm hồn tỏng sáng, mơ mộng, tỡnh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu vô cùng gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn . Đó chính

là hỡnh ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỡ khỏng chiến chống Mĩ.

Câu 3 : Truyện được trần thuật từ nhân vật nào ? Việc chọn vai kể như vậy có tác dụng gỡ trong việc thể hiện nội dung truyện ?

- Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất và những người kể chuyện cũng là nhân vật chính. Sự lựa chọn ngôi kể như vậy phù hợp với nội dung tác phẩm và tạo thuận lợi để tác giả miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn, những cảm xcus và suy nghĩ của nhân vật. Để cho nhân vật là người trong cuộc kể lại thỡ cõu chuyện sẽ thật hơn, cụ thể và sinh động hơn, tạo cho người đọc cảm giác tin vào câu chuyện hơn. Và ở đây, truyện viết về chiến tranh, tất nhiên phải có bom đạn, chiến đấu, hi sinh, nhưng trong truyện này, hiện lên khá rừ là thế giới nội tõm của cỏc cụ gỏi thanh niờn xung phong với vẻ đẹp tâm hồn của một thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ. Đó cũng là do cách lựa chọn và kể của tác giả - nhất là vai kể ở đây lại là một cô gái trẻ Hà Nội có cá tính nhiều mộng mơ với những kỉ niệm đẹp của thời thiếu nữ.

Câu 4 : Viết đoạn văn nêu cảm nhận về nhân vật Phương Định. (khoảng 12 -> 15 câu)

Gợi ý : Triển khai cỏc ý sau :

Phương Định là hỡnh ảnh tiờu biểu của những người con gái Hà Nội vào chiến trường đánh giặc.

- Cô rất trẻ , có thời học sinh hồn nhiên vô tư bên người mẹ trong những ngày thanh bỡnh của thành phố.

- Ngay giữa chiến trường ác liệt, Phương Định vẫn không mất đi sự hồn nhiên, trong sáng : cô hiện lên rất đời thường, rất thực với những nét đẹp tâm hồn : nhạy cảm, hay mơ mộng và thích hát. (Cảm xúc của Định trước cơn mưa đá)

- Là cô gái kín đáo trong tỡnh cảm và tự trọng về bản thõn mỡnh. (Hay ngắm mắt mỡnh qua gương, biết mỡnh đẹp và được các anh bộ đội để ý nhưng không tỏ ra săn sóc, vồn vó…., nột kiờu kỡ của những cụ gỏi Hà thành)

- Tỡnh cảm đồng đội sâu sắc : yêu mến hai cô bạn cùng tổ, yêu mến và cảm phục tất cả những chiến sĩ mà cô gặp trên tuyến đường Trường Sơn. (Chăm sóc Nho khi Nho bị thương….)

- Ngời lên những phẩm chất đáng quý : cú trỏch nhiệm với cụng việc, dũng cảm, bỡnh tĩnh, tự tin….

- Truyện kể theo ngụi thứ nhất (nhõn vật kể là nhõn vật chớnh) phự hợp với nội dung truyện và thể hiện tõm trạng suy nghĩ của nhân vật. Tác giả am hiểu và miêu tả sinh động nét tâm lí của những nữ thanh niên xung phong.

=> Nhân vật Phương Định đó để lại trong lũng người đọc nỗi niềm đồng cảm, yêu mến và sự kính phục về phẩm chất tốt đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Đoạn văn mẫu :

       Là con gái Hà Nội vào chiến trường đánh giặc, cô mang theo những kỉ niệm đẹp của một thời học sinh vô tư lự bên người mẹ và những hỡnh ảnh, những kỉ niệm thõn thương quá đối với thành phố của cô (1). Ở chiến trường 3 năm, đó quen với những thử thỏch nguy hiểm, giỏp mặt hàng ngày với cỏi chết, nhưng cô không hề mất đi sự hồn nhiên, trong sáng và những ước mơ về tương lai : nhạy cảm, mơ mộng và thích được hát(2). Cô hồn nhiên đến đáng yêu khi gặp cơn mưa đá trên cao điểm : « Tôi chạy vào, bỏ trên bàn tay đang xoè ra của Nho mấy viên đá nhỏ. Lại chạy ra, vui thích cuống cuồng. Rồi mưa tạnh, tôi bỗng thẫn thờ tiếc không nói nổi »(3). Cùng với trận mưa đá ấy, những kỉ niệm

thời thiếu nữ lại trào lên trong cô « xoáy mạnh như súng ằ biết bao hỡnh ảnh thõn thương của gia đỡnh, thành phố và quờ hương (4). Nó vừa là niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường (5). Là cô gái xinh đẹp, đầy nữ tính, biết điệu đà làm dáng nhưng lại rất kín đáo, tế nhị, có chiều sâu trong tỡnh cảm và tự trọng về bản thõn mỡnh (6). Biết mỡnh được các anh lính để mắt, điều đó khiến cô vui và tự hào nhưng cô không hề tỏ ra vồn vó, săn đón, cô luôn kín đáo giữa đám đông : « đứng ra xa, khoanh tay lại trước ngực và nhỡn đi nơi khác, môi mỡm chặt ằ (7). Cụ yờu mến đồng đội, đặc biệt là hai người bạn gái cùng tổ, luôn lo lắng sau mỗi lần phá bom : « Tôi phủi áo, căng mắt nhỡn qua khúi và chạy theo chị Thao… Chi Thao vấp ngó. Tụi đỡ chị… Tôi moi đất, bế Nho đặt lên đùi mỡnh ằ, rồi chăm sóc đồng đội như một y tá(8). Cô cũn yờu mến và cảm phục tất cả những chiến sĩ mà cụ gặp trờn tuyến đường Trường Sơn (9). Trong suy nghĩ của cô : « những người đẹp nhất, thông mỡnh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ (10). Cuộc sống chiến đấu đối mặt với kẻ thù hàng ngày, thần Chết luôn đe doạ từng giây phút đó rốn luyện cho cụ gỏi Hà thành đức tính dũng cảm, gan dạ, tự tin để hoàn thành mọi nhiệm vụ (11). Công việc hàng ngày của cô và đồng đội rất nhiều và nguy hiểm : phá bom, ít nhất là 3 quả, có ngày 5 quả », công việc khủng khiếp bóp nghẹt trái tim, nhưng cô nói về chừng ấy công việc gọn gàng, khô khốc, tĩnh nhẹ như không, cô nghĩ về công việc của mỡnh quỏ giản dị và cũn cho là cú cỏi thỳ riêng : « có ở đâu như thê này không. Đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ỡ xa dần. Thần kinh căng ra như chóo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chận chạy mà vẫn không biết rằng khắp xung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ » (12). Chiến tranh và đạn bom giặc Mỹ đó làm cụ lớn lờn, trở thành dũng sĩ mạnh mẽ mà cụ khụng hề biết : ô quen rồi. Một ngày tụi phỏ bom đến 5 lần. Ngày nào ít : ba lần. Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể » (13). Thế đấy, những cảm xúc, suy nghĩ chân thực của cô đó truyền sang cho người đọc nỗi niềm đồng cảm, yêu mến và sự kính phục (14).Tất cả đó được tác giả kể chân thực, sinh động và tự nhiên qua tâm lí nhân vật ở những sự việc và chi tiết cú ý nghĩa trong truyện, và những nột tõm lớ này lại được chính nhân vật nói lên qua vai kể của mỡnh nờn lại càng thấm thớa(15).

Cõu 5: Tỡm hiểu những nột chung và những nột riờng của ba nhõn vật cụ gỏi thanh niờn xung phong trong truyện.

a. Nột chung :

- Họ đều thuộc thế hệ những cô gái thanh niên xung phong thời kỡ khỏng chiến chống Mĩ mà tuổi đời cũn rất trẻ (như Phương Định vốn là một cô học sihh thành phố), có lí tưởng, đó tạm xa gia đỡnh, xa mỏi trường, tự nguyện vào chiến trường tham gia một cách vô tư, hồn nhiên. Việc họ lấy hang đá làm nhà, coi cao điểm đầy bom đạn là chiến trường hàng ngày đối mặt với cái chết trong gang tấc đó núi lờn tất cả. Nột chung này khụng chỉ cú ở đây mà cũn được nói đến ở nhiều tác phẩm khác như « Gửi em, cô thanh niên xung phong » của Phạm Tiến Duật, « khoảng trời hố bom » của Lâm Thị Mỹ Dạ và truyện ngắn « mảnh trăng cuối rừng » của Nguyễn Minh Châu… Tạo thành biểu tượng gương mặt đẹp và đáng yêu của những cô gái mở dường thời kháng chiến chống Mĩ.

- Họ đều có những phẩm chất chung của những chiến sĩ thanh niên xung phong ở chiến trường : tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ, lũng dũng cảm khụng sợ hi sinh, tỡnh đồng đội gắn bó. Có lệnh là lên đường, bất kể trong tỡnh huống nào, nguy hiểm khụng từ nan dự phải đối mặt với máy bay và bom đạn quân thù, và đó lờn đường là hoàn thành nhiệm vụ ( d/c – sgk). Khi đồng đội gặp tai nạn thỡ khẩn trương cứu chữa và tận tỡnh chăm sóc (câu chuyện Nho bị thương khi phá bom). Cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường thật gian khổ, nguy hiểm và luôn căng thẳng nhưng họ vẫn bỡnh tĩnh, chủ động, luôn lạc quan yêu đời, trong hang vẫn vang lên tiếng hát của ba cô gái.

- Cùng là ba cô gái trẻ với cuộc sống nội tâm phong phú đáng yêu : dễ cảm xúc, nhiều mơ ước, hay mơ mộng, dễ vui, dễ buồn. Họ thích làm đẹp cho cuộc sống của mỡnh, ngay cả trong hoàn cảnh chiến trường ác liệt. Nho thích thêu thùa, chị Thao chăm chép bài hát, Định thích ngắm mỡnh trong gương, ngồi bó gối mơ mộng và hát… Cả ba đều chưa có người yêu, đều sống hồn nhiên tươi trẻ (chi tiết trận mưa đá bất chợt đến và niềm vui trẻ trung của ba cô gái khi được « thưởng thức » những viên đá nhỏ.

b. Nột riờng :

- Nho là một cô gái trẻ, xinh xắn, « trông nó nhẹ, mát mẻ như một que kem trắng », có « cái cổ trũn và những chiếc cỳc ỏo nhỏ nhắn » rất dễ thương khiến Phương Định « muốn bế nó lên tay ». Nho lại rất hồn nhiên – cái hồn nhiên cảu trẻ thơ : « vừa tắm ở dưới suối lên, cứ quần áo ướt, Nho ngồi, đũi ăn kẹo » ; khi bị thương nằm trong hang vẫn nhổm dậy, xoè tay xin mấy viên đá mưa,  nhưng khi máy bay giặc đến thỡ chiến đấu rất dũng cảm, hành động thật nhanh gọn : « Nho cuộn trũn cỏi gối, cất nhanh vào tỳi ằ, Nho quay lưng lại chúng tôi, chụp cái mũ sắt lên đầu » … Và trong một lần phá bom, cô đó bị sập hầm, đất phủ kín lên người.

- Phương Định cũng trẻ trung như Nho là một cô học sinh thành phố, nhạy cảm và hồn nhiên, thích mơ mộng và hay sống với những kỉ niệm của tuổi thiếu nữ vô từ về gia đỡnh và về thành phố của mỡnh. Ở đoạn cuối truyện, sau khi trận mưa đá tạnh, là cả một dũng thác kỉ niệm về gia đỡnh, về thành phố trào lờn và xoỏy mạnh như sóng trong tâm trí cô gái. Có thể nói đây là những nét riêng cảu các cô gái trẻ Hà Nội vào chiến trường tham gia đánh giặc, tuy gian khổ nhưng vẫn giữ được cái phong cách riêng của người Hà Nội, rất trữ tỡnh và đáng yêu.

- Cũn Thao, tổ trưởng, ít nhiều có từng trải hơn, mơ ước và dự tính về tương lai có vẻ thiết thực hơn, nhưng cũng không thiếu nhưng khát khao và rung động của tuổi trẻ. « Áo lót của chị cái nào cũng thêu chỉ màu ».Chị lại hay tỉa đôi lông mày của mỡnh, tỉa nhỏ như cái tăm. Nhưng trong công việc, ai cũng gờm chị về tính cương quyết, táo bạo. ĐẶc biệt là sự « bỡnh tĩnh đến phát bực » : máy bay địch đến nhưng chị vẫn « móc bánh quy trong túi, thong thả nhai ». Có ai ngờ con người như thế lại sợ máu và vắt : « thấy máu, thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tái mét ».VÀ không ai có thể quên được chị hát : nhạc sai bét, giọng thỡ chua, chị khụng hỏt trụi chảy được bài nào. Nhưng chị lại có ba quyển sổ dày chép bài hát và rỗi là chị ngồi chộp bài h ỏt.

=> Những nét riêng đó đó làm cho cỏc nhõn vật sống hơn và cũng đáng yêu hơn.

Cõu 6 : Viết một đoạn văn quy nạp (12 câu): « Những ngôi sao xa xôi » đó khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn của thanh niên Hà Nội  qua hỡnh ảnh  Phương Định  dũng cảm gan dạ mà cũng thật trong trẻo, mộng mơ.

Gợi ý :

- Đoạn văn giầu chất thơ (tâm trạng trước trận mưa đá) => cảm xúc bâng khuâng xao xuyến, niềm vui nỗi buồn chợt đến, chợt đi.

- Niềm tin ấy cứ lấp lỏnh mói như ánh sáng của những ngôi sao xa xôi mà không gỡ, không một thế lực tàn bạo, khắc nghiệt nào có thể dập tắt được

- Trong cảm xúc bâng khuâng, xao động, thoáng qua của PĐ, hỡnh ảnh ngụi nhà, người mẹ, những gỡ thõn thuộc gần gũi đến hỡnh ảnh lung linh của những ngụi sao mà tỏc giả đó hơn một lần nhắc đến, ánh sáng của đèn điện ngỡ là thực mà như là ảo. Tất cả hiện lên trong ánh sáng lung lính của kí ức mộng mơ, rất thiếu nữ, rất dung dị của người Hà Nội.

Cõu 7 : Trong truyện « Những ngôi sao xa xôi » có đoạn : « Không hiểu vỡ sao mỡnh gắt nữa…. đang bắn ».

Những câu văn trên đó thể hiện hiện thực như thế nào ? Nhận xét về hiệu quả diễn đạt của những câu văn ấy ?

Gợi ý :

Nhịp điệu dồn dập của những câu văn như những đợt bom đang liên tiếp dội xuống, như khói đang dồn vào hang => Góp phần tô đậm hiện thực.

Sợ + lo lắng -> ô gắt ằ

« Trên cao điểm vắng vẻ, chỉ có »=> Vẫn tiếp tục bằng những câu văn ngắn, rất ngắn, một loạt các câu đặc biệt diễn tả sự cách biệt của con người trên cao điểm.

Câu văn « và bom » đặt giữa hai câu => dường như quả bom ngăn cách Định và đồng đội của cô. TỪ « và » liên kết câu tựa như những ý nghĩ, những suy nghĩ tỡnh cảm gắn kết PĐịnh với Nho và Thao. Nhưng đồng thời chính ý nghĩ về đồng đọi lại khiến cho PĐịnh bớt sợ, bớt cô đơn. Cô gái Hà Nội ấy cảm thấy vững lũng hơn khi thấy « Cao xạ đặt bên kia quả đồi ». Tiếng súng cao xạ - tiếng của những người đồng chí khiến cô vững tâm hơn.

=> Đoạn văn vừa gợi được sự khốc liệt của chiến tranh, vừa diễn tả được tâm trạng lo lắng bồn chồn của PĐ đồng thời cũng thể hiện những tỡnh cảm, suy nghĩ về tỡnh đồng đội rất ấm áp.

PHẦN TẬP LÀM VĂN

Đề 1 : Cảm nghĩ về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn « Những ngôi sao xa xôi » của Lê Minh Khuê

A. Mở bài :

 - Giới thiệu con đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ - được coi là biểu tượng anh hùng của cuộc chiến đấu giành độc lập tự do.

- Nhà văn Lê Minh Khuê đó từng là thanh niờn xung phong trờn tuyến đường TS máu lửa.

- Những tác phẩm của chị viết về cuộc sống chiến đấu của bộ đội và thanh niên xung phong ở đây đó gõy được sự chú ý của bạn đọc mà truyện ngắn ô những ngụi sao xa xụi ằ là một trong những tỏc phẩm ấy.

- Truyện viết về 3 cô gái trong một tổ trinh sát mặt đường làm nhiệm vụ phá bom trên tuyến đường TS đạn bom khốc liệt. Phương Định, nhân vật kể chuyện cũng là nhân vật chính để lại nhiều ấn tượng đẹp và tỡnh cảm sõu sắc trong lũng người đọc.

B. Thõn bài.

1. Cảm nhận về tính hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch của Phương Định.

- Phương Định là nữ sinh của thủ đô thanh lịch bước vào chiến trường. Phương Định có một thời học sinh- cái thời áo trắng ngây thơ, hồn nhiên và vô tư lự  của cô thật vui sướng ! Những hoài niệm của cô về thời học sinh thật đáng yêu luôn sống trong cô ngay giữa chiến trường. 

- Cơn mưa đá ngắn ngủi đột ngột xuất hiện ở cuối truyện, ngay sau trận phá bom đầy nguy hiểm cũng thức dậy  trong cô bao niềm vui thơ trẻ : cô nhớ về mẹ, cái cửa sổ căn nhà, những ngôi sao to trên bầu trời thành  phố… Nó thức dậy những kỉ niệm và nỗi nhớ về thành phố, gia đỡnh, về tuổi thơ thanh bỡnh của mỡnh. Nú vừa là niềm khao khỏt, vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh, khốc liệt và nóng bỏng của chiến trường.

- Những thử thách và nguy hiểm ở chiến trường, thậm chí cả cái chết không làm mất đi ở cô sự hồn nhiên trong sáng và những ước mơ về tương lai. Phương Định vẫn là người con gái nhậy cảm, hồn nhiên, hay mơ mộng và thích hát.

- Cô đem cả lũng say mờ ca hỏt vào chiến trường TS ác liệt. Cô thích hát những hành khúc bộ đội, những bài dân ca quan họ, dân ca Nga, dân ca í. Giọng của Phương Định chắc là hay lắm nên « chị Thao thường yêu cầu cô hát đấy sao » ? Định cũn cú tài bịa ra lời bài hỏt nữa. Chị Thao đó ghi cả vào sổ những lời hỏt cụ bịa ra….

+ Phương Định là một cô gái xinh xắn. Cũng như các cô gái mới lớn, cô nhạy cảm và quan tâm đến hỡnh thức của mỡnh. Chiến trường khốc liệt nhưng không đốt cháy nổi tâm hồn nhạu cảm của cô. Cô biết mỡnh đẹp và được nhiều người để ý : ô Tụi là con gỏi Hà Nội. Núi một cỏch khiờm tốn, tụi là một cụ gỏi khỏ….. ằ ; cũn mặt tụi thỡ cỏc anh lỏi xe bảo ô : Cụ cú cỏi nhỡn sao mà xa xăm ».  Điều đó làm cô thấy vui và tự hào.

+ Biết mỡnh được cánh lính trẻ để ý nhưng cô « không săn sóc, vồn vó ằ, khụng biểu lộ tỡnh cảm của mỡnh, nhưng chưa để lũng mỡnh xao động vỡ ai : ô thường đứng ra xa, khoanh tay lại trước ngực và nhỡn đi nơi khác, môi mím chặt ». Đó là cái vẻ kiờu kỡ đáng yêu của các cô gái Hà Nội như chính cô đó thỳ nhận : ô chẳng qua là tụi điệu đấy thôi ».

- Cô luôn yêu mến đồng đội của mỡnh, yờu mến và cảm phục tất cả cỏc chiến sĩ mà cụ gặp trờn truyến đường Trường Sơn.

2. Cảm nhận về chất anh hựng trong cụng việc của cụ.

- Là một nữ sinh, Phương Định xung phong ra mặt trận, cùng thế hệ của mỡnh ô xẻ dọc TS đi cứu nước – mà lũng phơi phới dậy tương lai » để giành độc lập tự do cho TQ. Cô ra đi mà không tiếc tuổi thanh xuân, nguyện dâng hiến hết mỡnh cho Tổ quốc.

+ Cô kể : « chúng tôi có ba người. Ba cô gái. Chúng tôi ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Con đường đi qua trước hang bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Hai bên đường không có lá xanh. Chỉ có thân cây bị tước khô cháy. Trên cao điểm trống trơn, cô và các  bạn phải chạy giữa ban ngày phơi mỡnh ra giữa vựng trọng điểm đánh phá của máy bay địch.

+ Cụ núi về cụng việc của mỡnh gọn gàng khụ khốc, tĩnh nhẹ như không : « việc của chúng tôi là ngồi đây. KHi có bom nổ thỡ chạy lờn, đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thỡ phỏ bom ằ .

+ PĐnghĩ về công việc của mỡnh quỏ giản dị, cụ cho là cỏi thỳ riờng : ô có ở đâu như thế này không : đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ĩ xa dần. Thần kinh căng như chóo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn không hay biết rằng khắp xung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ ». Giản dị mà cũng thật anh hùng. Chiến tranh và đạn bom đó làm cụ lớn lờn, trở thành dũng sĩ mạnh mẽ mà cô không hề biết. Thật đáng phục !

3. Cảm nhận về tỡnh thần dũng cảm trong một cuộc phỏ bom đầy nguy hiểm.

- Lúc đến gần quả bom :

+ Trong không khí căng thẳng và vắng lặng đến rợn người, nhưng rồi một cảm giác bỗng đến với cô làm cô không sợ nữa : « tôi đến gần quả bom . Cảm thấy ánh mắt cás chiến sĩ dừi theo mỡnh, tụi khụng sợ nữa. Tụi sẽ khụng đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới ». Lũng dũng cảm của cụ như được kích thích bởi sự tự trọng.

+ Và khi đó ở bờn quả bom, kề sỏt với cỏi chết  cú thể đến tức khắc, từng cảm giác của cô như cũng trở nên sắc nhọn hơn và căng như dây đàn : « thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi, tôi rùng mỡnh và bỗng thấy tại sao mỡnh làm quỏ chậm. Nhanh lờn một tớ ! Vỏ quả bom núng. Một dấu hiệu chẳng lành ằ.  Thần chết nằm chực ở đó chờ phút ra tay. Cô phải nhanh hơn, mạnh hơn nó, không được phép chậm chễ một giây.

- Tiếp đó là cảm giác căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom. Thật đáng sợ cái công việc chọc giận Thần Chết đó. Ai dám chắc là quả bom sẽ không nổ ngay bây giờ, lúc Phương định đang lúi húi đào đào, bới bới ấy. Thế mà cô vẫn không run tây, vẫn tiếp tục cái công việc đáng sợ : « tôi cẩn thận bỏ gúi thuốc mỡnh xuống cỏi lỗ đó đào, châm ngũi. Tụi khoả đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của mỡnh : liệu mỡn cú nổ, bom cú nổ khụng ? Khụng thỡ làm cỏch nào để châm mỡn lần thứ hai.. Nhưng quả bom nổ. Một thứ tiếng kỡ quỏi đến váng óc. Ngực tôi nhói, mắt cay mói mới mở ra được. Mùi thuốc bom buồn nôn. Ba tiếng nổ nữa tiếp theo. Đất rơi lộp bộp, tan đi âm thanh trong những bụi cây. Mảnh bom xé không khí, lao và rít vô hỡnh trờn đầu. Bốn quả bom đó nổ. Thắng rồi ! Nhưng một đồng đội đó bị bom vựi ! Mỏu tỳa ra từ cánh tay Nho, túa ra, ngấm vào đất. Da xanh, mắt nhắm nghiền, quần áo đầy bụi… ». Nhưng không ai được khóc trong giờ phút rất cần sự cứng cỏi của mỗi người.

- Cái công việc khủng khiếp bóp nghẹt trái tim ấy không chỉ đến một lần trong đời mà đến hàng ngày : « Quen rồi. Một ngày tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít : ba lần. Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. »

=>Cảm xúc và suy nghĩ chân thực của cô đó truyền sang cho người đọc nỗi niềm đồng cảm yêu mến và sự kính phục. Một cô nữ sinh nhỏ bé, hồn nhên, giàu mơ mộng và nhạy cảm mà cũng thật anh hùng, thật xứng đáng với những kỡ tớch khắc nghi trờn những tuyến đường TS bi tráng. Một ngày trong những năm tháng TS của cô là như vậy. Những trang lịch sử TS không thể quên ghi một ngày như thế.

C. Kết luận.

- Chúng ta luôn tự hào về những chiến sĩ, những thanh niên xung phong TS như Phương Định và đồng đội của cô. Lịch sử những cuộc kháng chiến và chiến thắng hào hùng của dân tộc không thể thiếu những tấm gương như cô và thế hệ những người đó đổ máu cho nền độc lập của Tổ Quốc.

- Chúng ta càng yêu mến tự hào về cô,  càng biết ơn và  học tập tinh thần của những người như cô trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay.

                                           ===================

Đề 2 : « Những ngôi sao xa xôi » của Lê Minh Khuê là vẻ đẹp tâm hồn của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, vừa có những nét chung đáng quý, vừa mang những nột riờng của ô những ngụi sao xa xụi ằ. Hóy phõn tớch.

Dàn ý.

A. Mở bài :

Cỏch 1 : 

- Cuộc kháng chiến chống Mĩ đó đi qua….. nhưng ánh sáng chói lọi của nó vẫn luôn tồn tại cùng với lịch sử dân tộc ta qua các tác phẩm văn học như….. Và có những con người bỡnh dị, đó làm nờn cuộc khỏng chiến ấy, đó là những người lính, những cô thanh niên xung phong, những chiến sĩ vô danh…. « Những ngôi sao xa xôi » viết về những con người như vậy. Ba cô gái thanh niên họp thành một tổ trinh sát mặt đường….

Họ đó sống và chết.

Giản dị và bỡnh tõm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đó làm nờn đất nước.

(Ngó ba Đồng Lộc)

Cỏch 3 :

- Truyện « những ngôi sao xa xôi » của Lê Minh Khuê được viết năm 1971, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt.

- Truyện  kể lại cuộc sống của ba cụ gỏi thanh niờn xung phong làm cụng tỏc trinh sỏt và phá bom thông đường trên một cao điểm của Trường Sơn những năm tháng chống Mĩ. Qua đó thể hiện và ca ngợi tâm hồn và phẩm chất cao đẹp của những người con gái Việt Nam thời chống Mĩ : Hồn nhiên, trong sáng trong cuộc sống, dũng cảm trong chiến đấu và luôn lạc quan trước tương lai.

- Họ đó để lại một ấn tượng rất sâu sắc, giúp người đọc nhận ra rằng trong chiến thắng vinh quang của dân tộc trước một cường quốc lớn, có những con người làm việc và hiến dâng cả tuổi xuân, cả máu của mỡnh cho đất nước.

B. Thõn bài.

1. Hoàn cảnh sống và chiến đấu :

- Họ ở trong một hang dưới chân một cao điểm giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn,  tức là ở nơi tập trung nhất bom đạn và sự nguy hiểm, ác liệt, từng ngày, từng giờ phải đối mặt với bom rơi, đạn nổ.  Có biết bao thương tích vỡ bom đạn giặc : đường bị đánh « lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn » tưởng như sự sống bị huỷ diệt : « không có lá xanh » hai bên đường, « thân cây bị tước khô cháy »…Những cây rễ nằm lăn lóc, ngổn ngang những hũn đá to…. han rỉ trong lũng đất ».

=>Quả là một hiện thực khô khốc đầy mùi chiến tranh, nó không có màu xanh của sự sống, chỉ thấy tử thần luôn rỡnh rập.

- Công việc trinh sát, phá bom lại càng đặc biệt nguy hiểm. Họ phải chạy trên cao điểm giữa ban ngày, phơi mỡnh ra giữa vùng trọng điểm đánh phá của máy bay địch để đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là một công việc phải mạo hiểm với cái chết, luôn căng thẳng thần kinh, đũi hỏi sự dũng cảm và bỡnh tĩnh hết sức.

+ Không khí của chiến tranh không giống như tương lai hay quá khứ có một âm điệu riêng. Chẳng hạn như sự im lặng : « Cuộc sống ở đây đó dậy cho chỳng tụi thế nào là sự im lặng ằ. Im lặng cú nghĩa là cỏi chết đang rỡnh rập đâu đây, nó ập đến bất cứ lúc nào. Chưa hết, đó mới chỉ là hiện thực lúc yên tĩnh, cũn lỳc cú bom của địch thỡ sao ? ô Nghe tiếng bom đầu tiên, có đứa chết giấc, nằm dán xuống đất », rồi  « chúng tôi bị bom vùi luôn. Cú khi bũ trờn cao điểm trở về hang, cô nào cũng chỉ thấy « hai con mắt lấp lánh », « hàm răng loá lên » khi cười, khuôn mặt thỡ ô lem luốc ằ.

2. Vẻ đẹp tâm hồn của ba cô gái thanh niên xung phong và cũng là của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

a. Những nột chung :  Cả ba cô, cô nào cũng đáng mến, đáng cảm phục

-  Họ đều thuộc thế hệ những cô gái thanh niên xung phong thời kỡ khỏng chiến chống Mĩ mà tuổi đời cũn rất trẻ (như Phương Định vốn là một cô học sinh thành phố), có lí tưởng, đó tạm xa gia đỡnh, xa mỏi trường, tỡnh nguyện vào cái nơi mà cái sự mất cũn chỉ diễn ra trong nhỏy mắt, một cỏch vụ tư, hồn nhiên, cống hiến tuổi thanh xuân. Họ thực sự là những anh hùng không tự biết.  Nét chung này không chỉ có ở đây mà cũn được nói đến ở nhiều tác phẩm khác như « Gửi em, cụ thanh niờn xung phong ằ của Phạm Tiến Duật, ô Khoảng trời hố bom ằ của Lõm Thị Mỹ Dạ và truyện ngắn ô Mảnh trăng cuối rừng » của Nguyễn Minh Châu… Tạo thành biểu tượng gương mặt đẹp và đáng yêu của những cô gái mở đường thời kháng chiến chống Mĩ.

- Qua thực tế chiến đấu, cả ba cô gái đều có  tinh thần trách nhiệm cao với nhiệm vụ, lũng dũng cảm khụng sợ hi sinh, tỡnh đồng đội gắn bó. Có lệnh là lên đường, bất kể trong tỡnh huống nào, nguy hiểm khụng từ nan dự phải đối mặt với máy bay và bom đạn quân thù, và đó lờn đường là hoàn thành nhiệm vụ ( d/c – sgk).

+ Nghe Phương Định kể lại một lần phá bom : « tôi một quả bom trên đồi. Nho, hai quả dưới lũng đường. Chị Thao, một quả dưới cái chân hầm ba-ri-e cũ. Cảnh tượng chiến trường trở nên « vắng lặng đến phát sợ ».  Đến với toạ độ chết, đến với quả bom cần phải phá nổ (mà không biết nó sẽ nổ vào lúc nào , sự cầu viện tâm linh của cô gái (nhân vật tôi) giống như một ảo ảnh : « Các anh cao xạ có nhỡn thấy chỳng tụi khụng ? ằ Mặc dự ô quen rồi ằ. Một ngày chỳng tôi phá bom đến năm lần » nhưng cái hồi hộp dường như không hề thay đổi. Như cái cảm giác chờ bom phát nổ : tất cả đều đứng im, cả gió, cả nhịp tim trong lồng ngực. Chỉ có chiếc đồng hồ : « Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng đè lên những con số vĩnh cửu…. ». Quả bom cú hai vũng trũn màu vàng nằm lạnh lựng trờn một bụi cõy khụ, một đầu vùi xuống đất. Thần chết đang đợi chờ. Vỏ quả bom nóng. Định dùng lưỡi xẻng đào đất, có lúc lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Có lúc Định « rùng mỡnh ằ vỡ cảm thấy tại sao mỡnh lại làm  quá chậm thế ! ...Hai mươi phút đó trụi qua. Tiếng cũi chị Thao rỳc lờn,, Định cẩn thận bỏ gói thuốc mỡn xuống cỏi lỗ đó đào, châm ngũi vào dõy mỡn. … tiếng khụng khớ. Đất rơi lộp bộp. Bom nổ váng óc, ngực đau nhói, đôi mắt cay mói mới mở ra được. Mồ hôi thấm vào môi, cát lạo xạo trong miệng. Nguy hiểm, căng thẳng không thể nào kể xiết… .Chị Thao vấp ngó, Nho bị thương. Bom nổ, hầm sập, chị Thao và Định phải moi đất bế Nho lên. Máu túa ra, ngấm vào đất »…Định rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc, pha sữa cho Nho, chị Thao nghẹn ngào….

+ Cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường thật gian khổ, nguy hiểm và luôn căng thẳng nhưng họ vẫn bỡnh tĩnh, chủ động, luôn lạc quan yêu đời.  Phương Định cho biết : « Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể…. ằ.

=>Phải nói rằng trong đoạn văn trả cảnh phá bom trên cao điểm, Lê Minh Khuê đó sử dụng bỳt phỏp hiện thực để tái hiện lại cảnh phá bom vô cùng nguy hiểm, dựng nên một tượng đài về khí phách anh hùng lẫm liệt của tổ trinh sát mặt đường từ những con người bằng xương bằng thịt. Chị Thao, Nho, Định như những ngôi sao xa xôi sáng ngời lên những sắc xanh trong khói lửa đạn bom. Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng và lũng người như những nữ anh hùng ngó ba Đồng Lộc : 

« Đất  nước mỡnh nhõn hậu

Có nước trời xoa dịu vết thương đau

Em nằm dưới đất sâu

Như khoảng trời đó nằm yờn trong đất

Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng

Những vỡ sao ngời chúi,  lung linh…

(Khoảng trời hố bom – Lõm Thị Mỹ Dạ)

- Họ đều  là những  cô gái trẻ với cuộc sống nội tâm phong phú đáng yêu : dễ cảm xúc, nhiều mơ ước, hay mơ mộng, dễ vui, dễ buồn. Họ thích làm đẹp cho cuộc sống của mỡnh, ngay cả trong hoàn cảnh chiến trường ác liệt. Nho thích thêu thùa, chị Thao chăm chép bài hát, Định thích ngắm mỡnh trong gương, ngồi bó gối mơ mộng và hát… Cả ba đều chưa có người yêu, đều sống hồn nhiên tươi trẻ. Không lúc nào họ không nhớ về Hà Nội. Một trận mưa đá bất ngờ trở thành nỗi nhớ : « mà tôi nhó một cái gỡ đấy, hỡnh như mẹ tôi, cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố ằ. Nỗi nhớ ấy chớnh là sự nối dài, quỏ khứ, hụm nay và khỏt vọng mai sau.

-  Những kỉ niệm sống dậy như những khoảng sáng trong tâm hồn trong trẻo, ngây thơ, dịu dàng. Những xúc cảm hồn nhiên như nguồn sống, điểm tựa, giúp họ thêm vững vàng, sức mạnh vượt qua những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. « Khoảng trời xanh » trong thơ « Phạm Tiến Duật » và khoảng trời xanh của kí ức như có sức mạnh vô hỡnh đặc biệt là trong tâm hồn những trí thức trên đường ra trận.

=> Quả thực, đó là những cụ gỏi mang trong mỡnh những tớnh cỏch tưởng như không thể cùng tồn tại : vô cùng gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu mà vẫn hồn nhiên, vô tư trong cuộc sống. Những người như họ thật đáng trân trọng biết bao !

b. Nột riờng :

- Mỗi người thể hiện cái chung đó theo cách riêng của mỡnh.

+ Chị Thao, tổ trưởng, ít nhiều có từng trải hơn, mơ ước và dự tính về tương lai có vẻ thiết thực hơn, nhưng cũng không thiếu nhưng khát khao và rung động của tuổi trẻ. « Áo lút của chị cỏi nào cũng thờu chỉ màu ằ.Chị lại hay tỉa đôi lông mày của mỡnh, tỉa nhỏ như cái tăm. Nhưng trong công việc, ai cũng gờm chị về tính cương quyết, táo bạo. ĐẶc biệt là sự « bỡnh tĩnh đến phát bực » : máy bay địch đến nhưng chị vẫn « múc bỏnh quy trong tỳi, thong thả nhai ». Có ai ngờ con người  dày dạn trước sự sống và cái chết hàng ngày như thế lại sợ máu, sợ vắt: « thấy mỏu, thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tỏi một ».Và không ai có thể quên được chị hát : nhạc sai bét, giọng thỡ chua, chị  chăm chép bài hát dù chẳng thuộc nhạc, giọng lại chua, chị không hát trôi chảy được bài nào nhưng chị lại có ba quyển sổ dày chép bài hát và rỗi là chị ngồi chép bài h át.

+  Nho là một cụ gỏi trẻ, xinh xắn, « trông nó nhẹ, mát mẻ như một que kem trắng ằ, cú ô cỏi cổ trũn và những chiếc cỳc ỏo nhỏ nhắn ằ rất dễ thương khiến Phương Định « muốn bế nú lờn tay ». Nho rất thích tắm suối ngay cả khi khúc suối đó đang chứa bom nổ chậm và rất hồn nhiên – cái hồn nhiên của trẻ thơ : « vừa tắm ở dưới suối lên, cứ quần áo ướt, Nho ngồi, đũi ăn kẹo ằ. Hồn nhiờn là thế nhưng cô lại bỡnh thản vụ cựng khi bị thương : « Không chết đâu. Đơn vị đang làm đường kia mà. Việc gỡ phải khiến cho nhiều người lo lắng ». Ngay cả lúc đau đớn như vậy nhưng gặp mưa đá, Nho vẫn nhổm dậy, môi hé mở xoè tay xin mấy viên đá mưa :  « Nào, mày cho tao mấy viờn nữa ». Đặc biệt, khi  máy bay giặc đến thỡ chiến đấu rất dũng cảm, hành động thật nhanh gọn : « Nho cuộn trũn cỏi gối, cất nhanh vào tỳi ằ, Nho quay lưng lại chúng tôi, chụp cái mũ sắt lên đầu » … Và trong một lần phá bom, cô đó bị sập hầm, đất phủ kín lên người. Có lẽ với những người con gái ấy, sự sống luôn cao hơn cái chết.

+ Phương Định là cô gái để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lũng ta.  Phương Định cũng trẻ trung như Nho là một cô học sinh thành phố xinh đẹp, dũng cảm trong lửa đạn, giàu yêu thương đồng đội. Cô rất nhạy cảm và hồn nhiên, thích mơ mộng và hay sống với những kỉ niệm của tuổi thiếu nữ vô từ về gia đỡnh và về thành phố của mỡnh. (d/c).  Ở đoạn cuối truyện, sau khi trận mưa đá tạnh, là cả một dũng thỏc kỉ niệm về gia đỡnh, về thành phố trào lên và xoáy mạnh như sóng trong tâm trí cô gái. Có thể nói đây là những nét riêng của các cô gái trẻ Hà Nội vào chiến trường tham gia đánh giặc, tuy gian khổ nhưng vẫn giữ được cái phong cách riêng của người Hà Nội, rất trữ tỡnh và đáng yờu.

Những nét riêng đó đó làm cho cỏc nhõn vật sống hơn và cũng đáng yêu hơn. Trái tim đỏ rực của họ là « những ngụi sao xa xụi ằ mói mói lung linh, toả sỏng.

C. Kết luận.

- Chiến tranh đó qua đi, sau hơn ba mươi năm, nhưng đọc truyện « Những ngôi sao xa xôi » của Lê Minh Khuê, ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước. Nhà văn khiến lũng ta sống lại hỡnh ảnh tuyệt đẹp và những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường, của Định, của Nho, của Thao, của hàng ngàn, hàng vạn cô thanh niờn xung phong thời chống Mĩ. Chiến cụng thầm lặng của họ mói mói là một bài ca bất tử.

Hướng dẫn học ở nhà

- Ôn lại để nắm vững các kiến thức cơ bản

- Làm lại cỏc bài tập trờn

- Lập dàn ý cho đề bài sau:

           Vẻ đẹp tính cách và tâm hồn của các nhân vật nữ thanh niên xung phong trong truyện " Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê.

- Ôn tập lại các tác phẩm đã học, chuẩn bị cho KTHKII

**********************************************************

Các bạn sinh viên và giáo viên có nhu cầu tìm lớp dạy thêm có thể tham khảo tại đây:
Khu vực Biên Hòa - Đồng Nai: Dạy Kèm Tại Nhà Biên Hòa. Trung Tâm Gia sư Giáo Viên Đồng Nai
Khu vực Vũng Tàu: Trung tâm Gia sư Giáo Viên Dạy Kèm Tại Nhà Bà Rịa Vũng Tàu

Khu vực Bình Dương: Trung Tâm Gia Sư Giáo Viên Uy Tín Dạy Kèm Tại Nhà Bình Dương
Khu vực Phan Thiết: Trung tâm Gia sư Giáo Viên Giỏi Chuyên Dạy Kèm Tại Nhà Phan Thiết


Thanh Tùng
 

Tôi tên Thanh Tùng Là Quản Trị Viên của website toplist24h.com. Mọi thắc mắc liên hệ tôi qua email: tungtk1993@gmail.com. Cảm ơn các bạn đã ghé thăm website.

Click Here to Leave a Comment Below 0 comments

Leave a Reply: